- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoọc Bá In - Tàng trữ vũ khí quân dụng - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng…"
- Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ vào khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 100/2020/HS-ST Ngày: 25-8-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Moong Văn Bình.
2. Ông Vũ Bá Ngọc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Khuyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 98/2020/TLST-HS, ngày 7 tháng 7 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2020/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoọc Bá I. Tên gọi khác: Hoọc Phò X. Sinh ngày 01/7/1964 tại xã huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Bản TĐ, xã MT, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 02/10; dân tộc: Khơ mú; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoọc Văn Ph (đã chết) và bà Moong Y K; Vợ Hoọc Mẹ X (Tên gọi khác Moong Y M), con có 02 con lớn nhất sinh năm 1984 nhỏ nhất sinh năm 1992.
Tiền án; tiền sự: Không;
Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Vũ Thị Hồng, trợ giúp viên – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Người chứng kiến: Ông Lương Xuân L, sinh năm 1969. Nơi cư trú: Bản TĐ, xã MT, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2003 Hoọc Bá I được một người bạn tên là Bun, trú tại bản Na Mương, huyện Noọng Hét, tỉnh Xiêng Khoảng, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào cho 01 (Một) khẩu súng tự chế có chiều dài khoảng 79 cm, noòng súng bằng kim loại, Hoọc Bá I đem khẩu súng về cất giấu dưới gầm giường ngủ ở nhà mình tại bản TĐ, xã MT, huyện Kỳ Sơn. Đến trưa ngày 21/3/2020 Hoọc Bá I thấy tổ công tác Bộ đội biên phòng và Ban Công an xã MT đi tuần tra trong bản, lo sọ bị phát hiện việc cất giấu khẩu súng nên In đã lấy khẩu súng ra vứt vào đống củi sau nhà. Khoảng 13 giờ 20 phút cùng ngày tổ công tác đi đến nhà Hoọc Bá I để kiểm tra nhân khẩu thì phát hiện khẩu súng được vứt tại đống củi của nhà Hoọc Bá I, và lập biên bản thu giữ khẩu súng của Hoọc Bá I.
Tại bản kết luận giám định số 02/KTHS(Đ3) ngày 30 tháng 3 năm 2020 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Khẩu súng gửi tới giám định là súng tự chế (nòng súng nguyên là của súng quân dụng AK47 gia công lại) bắn loại đạn 7,62x39mm – Thuộc loại có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng. Hiện tại súng còn sử dụng để bắn được”.
Ngày 01/4/2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An đã ban hành quyết định số 11/QĐ-VKS-KS để chuyển vụ án hình sự đến cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Nghệ An để điều tra theo thẩm quyền.
Cáo trạng số 122/CT-VKS-P1 ngày 24/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố Hoọc Bá I về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự. Giao cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An giữ quyền công tố luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Hoọc Bá I mức án từ 12 (Mười hai) tháng đến 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” nhưng cho bị cáo được hưởng án treo thời gian thử thách từ 24 (Hai mươi bốn) tháng đến 30 (Ba mươi) tháng. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo; Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luât hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, giao 01 (Một) khẩu súng tự chế cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Nghệ An quản lý và xử lý theo quy định.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ dân trí thấp, sinh sống ở vùng sâu vùng xa kinh tế khó khăn, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là lao động chính trong gia đình, hiện sức khỏe của bị cáo không đảm bảo để chấp hành án đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất khung hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa, bị cáo Hoọc Bá I đồng ý với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có tranh luận gì. Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Hoọc Bá I đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 13 giờ 20 phút ngày 21/3/2020 tại nhà của Hoọc Bá I tại bản TĐ, xã MT, huyện Kỳ Sơn tổ công tác Đồn biên phòng xã Mường Ải – Bộ đội biên phòng tỉnh Nghệ An và Ban Công an xã Mường Típ phát hiện Hoọc Bá I phát hiện và thu giữ 01 (Một) khẩu súng tự chế có tính năng tương tự như vũ khí quân dụng. Khẩu súng được thu giữ và giám định vẫn sử dụng và bắn được có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng thuộc danh mục vũ khí quân dụng theo điểm a khoản 1 Điều 1 Luật số 50/2019/QH14- Luật sửa đổi, bổ sung, một số điều của Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ được Quốc hội nước CHXHCNVN khóa XIV, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2019. Hành vi của Hoọc Bá I đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý vũ khí quân dụng của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân gián tiếp gây ra các tội phạm nghiêm trọng khác, bị cáo là đảng viên của Đảng cộng sản Việt Nam mà không làm gương tuyên truyền cho quần chúng nhân dân để giao nộp các loại vũ khí cho lực lượng chức năng mà bị cáo lại thực hiện hành vi tàng trữ vũ khí quân dụng. Xét thấy trong trên địa bàn huyện Kỳ Sơn vẫn còn có tình trạng tàng trữ, sử dụng các loại súng săn tự chế hoặc vũ khí quân dụng nhằm săn bắn động vật hoang dã và gây ra những hậu quả đáng tiếc, để góp phần đảm bảo an ninh trật tự, thực hiện nhiệm vụ chính trị trên địa bàn huyện cần xử lý nghiêm hành vi này. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo thực hiện hành vi do thiếu hiểu biết, bị cáo là lao động chính trong gia đình, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bố đẻ bị cáo đã tham gia phục vụ kháng chiến bảo vệ tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế được các cấp ghi nhận công lao vì vậy cần cho bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định rõ ràng, sức khỏe bị cáo hiện nay không được đảm bảo (bị cáo bị tai biến) nên việc bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù là chưa cần thiết mà chỉ cần cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách cũng đủ để cải tạo giáo dục bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo thuộc gia đình hộ nghèo, không có thu nhập ổn định, gia đình khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: 01 (Một) khẩu súng tự chế (nòng súng nguyên là của súng quân dụng AK47 gia công lại) bắn loại đạn cỡ 7,62x39mm – thuộc loại có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng đã thu giữ của bị cáo cần được tịch thu, quản lý và xử lý theo quy định, vật chứng hiện nay đang được tạm gửi bảo quản tại kho 70 – Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Nghệ An.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ vào khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ Điều 64, 66, 69 và Điều 70 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ. Xử phạt bị cáo Hoọc Bá I (Tên gọi khác Hoọc Phò X): 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú là Ủy ban nhân dân xã Mường Típ, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An quản lý và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu của bị cáo Hoọc Bá I 01 (Một) khẩu súng tự chế có chiều dài 79 cm. Giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Nghệ An bảo quản và xử lý theo quy định. (Vật chứng hiện đang được lưu giữ tại kho 70 – Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Nghệ An theo biên bản bàn giao vũ khí đạn dược ngày 23 tháng 4 năm 2020 giữa Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Nghệ An và Phòng kỹ thuật Kho K70 Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Nghệ An.)
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Hoọc Bá I phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: [ơ - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Sở tư pháp Nghệ An; - VKSND huyện Kỳ Sơn; - Chi cục THADS Kỳ Sơn; - Công an huyện Kỳ Sơn; - Bị cáo; - Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Nghệ An; - UBND xã Mường Típ. - Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Văn Hải |