- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh H phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 100/2020/HS-PT Ngày: 20- 3- 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử ph c thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Tuấn Anh.
C c Thẩ ph n:
Bà Nguyễn Thị Võ Trinh.
Ông Đinh Chí Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị im oan- Th ký Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Kim Hóa - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 16 và 20 tháng 3 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp xét xử ph c thẩm công khai vụ án hình sự ph c thẩm thụ lý số: 64/2020/TLPT-HS ngày 31 tháng 01 năm 2020 đối v i bị cáo Nguyễn Minh H do có kháng cáo của bị cáo đối v i ản án h nh sự s thẩm số: 54 20 9 HS-ST ngày 20 tháng 1 năm 20 9 của Tòa án nhân dân huyện C, t nh Đ ng Tháp.
B c o c kh ng c o:
Nguyễn Minh H, sinh năm 996 tại t nh Đ ng Tháp; n i c tr (HKTT): Ấp 4, xã Ba S, huyện C, t nh Đ ng Tháp; nghề nghiệp: Sinh viên; tr nh độ văn hóa (học vấn): 12 2; dân tộc: inh; gi i tính: Nam; tôn giáo: hông; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hoàng N sinh năm 966 (sống) và bà Huỳnh Thị T, sinh năm 968 (sống); vợ, con: ch a có; tiền án, tiền sự: hông; tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo đang tại ngoại (C ặt tại phiên tòa).
- Người bào chữa cho b c o: uật s H Thị uân H ng- Văn phòng uật s uân H ng thuộc Đoàn uật s t nh Đ ng Tháp (C ặt).
Địa ch : Số 70, H ng V ng, ph ng 2, thành phố Sa Đéc, t nh Đ ng Tháp
NỘI NG V N:
Theo các tài iệu có trong h s vụ án và diễn bi n tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm t t nh sau:
Nguyễn Minh H hiện đang c tr tại ấp 4, xã Ba S, huyện C, t nh Đ ng Tháp, giữa H và bà Ngô Thị H1 là hàng xóm của nhau (hai nhà cách nhau khoảng 400 mét). H th ng xuyên đi ngang v n mai vàng của bà H nên nảy sinh ý định chi m đoạt mai của bà H bán lấy tiền tiêu xài.
Khoảng 21 gi ngày 10- 10- 2019, H chuẩn bị cây c a bằng kim loại dài 57,3 cm và 01 cái xẻng bằng kim loại dài 59 cm đi bộ đ n v n mai của bà H dùng c a c t nhánh 01 cây mai cao 74 cm, hoành 40 cm cho gọn, sau đó H dùng xẻng đào xung quanh gốc để bứng lên. Sau khi bứng xong cây mai thứ nhất, v i cách thức t ng tự H bứng ti p cây mai thứ hai cao 65 cm, hoành 32 cm. H đem 02 cây mai về nhà cất giấu phía sau v n nhà của H Đ n sáng hôm sau, H d ng đất để thêm vào hai gốc mai, d ng băng keo quấn toàn thân lại và d ng điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu bạc của mình chụp h nh đăng ên mạng xã hội Zalo và Facebook để bán thì có ng i thanh niên (không bi t họ tên) ở chợ G, huyện Gò Công T, t nh Tiền Giang thỏa thuận mua v i giá 3 000 000 đ ng, H đ ng ý bán Đ n sáng ngày 12- 10- 2019, H sử dụng xe môtô biển số 66K5- 53XX chở 02 cây mai đ n khu vực chợ G giao cho thanh niên nói trên và nhận 3 000 000 đ ng.
Đ n sáng ngày 13- 10- 20 9, anh
ng Ph c T1 là con rể của bà H1 thấy 02 cây mai H đăng bán, bi t là mai của bà H1 nên giả v hỏi mua v i giá 4 000 000 đ ng và hỗ trợ vận chuyển 000 000 đ ng, H thấy lợi nhuận h n nên thỏa thuận v i ng i thanh niên không rõ lai lịch ở chợ G, huyện Gò Công T, t nh Tiền Giang mua lại 02 cây mai v i giá 3 500 000 đ ng, ng i này đ ng ý Đ n ngày 14- 10- 2019, H đ n khu vực chợ G mua lại 02 cây mai đem về đ n Quán cà phê Thiên T2, địa ch ấp X, xã Mỹ Đ, huyện Tháp M, t nh Đ ng Tháp thì bị Công an huyện Tháp M m i làm việc.
Công an đã tạm giữ: 01 xe môtô hiệu Honda, biển số 66K5- 53XX; 01 cây mai vàng cao 74 cm, hoành 40 cm; 01 cây mai vàng cao 65 cm, hoành 32 cm; 220.000 đ ng; 0 điện thoại di động Iphone 6 màu bạc có số imei là 3544300657233 5 Sau đó, Công an huyện Tháp M chuyển vụ việc đ n C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C xử lý theo thẩm quyền.
Trong quá tr nh điều tra, H đã giao nộp: 0 cây c a bằng kim loại dài 57,3 cm ỡi màu đen, cán bằng nhựa màu xanh xám; n i rộng nhất 13,5 cm, nhỏ nhất 4,5 cm; 01 cây xẻng bằng kim loại màu đen dài 59 cm, ỡi xẻng rộng 07 cm, cán tròn đ ng kính 2,2 cm là dụng cụ trộm mai vàng (đ ợc niêm phong).
Tại K t luận định giá tài sản số 125 ngày 25- 10- 2019 của Hội đ ng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C đã k t luận: 01 cây mai cao 74 cm, hoành 40 cm trị giá 5 000 000 đ ng; 01 cây mai cao 65 cm, hoành 32 cm trị giá 6 500 000 đ ng, tổng cộng 2 500 000 đ ng.
Bị hại Ngô Thị H1 đã nhận lại 02 cây mai, không có yêu cầu b i th ng gì khác và có đ n xin miễn trách nhiệm hình sự đối v i H.
Đối v i xe môtô hiệu Honda, biển số 66K5- XXXX là của chị Nguyễn Lâm Hoàng Thu T3 bán cho ông Nguyễn Hoàng N nh ng ch a àm thủ tục sang tên, H sử dụng để vận chuyển mai đi bán, ông N không bi t nên C quan điều tra Công an huyện C đã trả lại xe cho ông N.
Đối v i số tiền 220 000 đ ng là tài sản cá nhân của H không iên quan đ n việc phạm tội nên C quan điều tra đã trả lại cho H.
Tại ản án số 54 20 9 HS-ST ngày 20- 11- 20 9 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, t nh Đ ng Tháp đã quy t định:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Trộm c p tài sản”
Về hình phạt: Áp dụng khoản Điều 73; Điều 38; điểm i và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H 09 tháng tù, th i hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, bản án s thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và nêu quyền kháng cáo theo uật định
Đ n ngày 03 tháng 12 năm 20 9, bị cáo Nguyễn Minh H có đ n kháng cáo xin đ ợc h ởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Minh H thừa nhận bị cáo đã thực hiện hành vi d ng c a và xẻng bằng kim loại lén lút đào ấy 02 cây mai của bà Ngô Thị H1 bán lấy tiền tiêu xài. Theo k t luận định giá tài sản, thì 02 cây mai mà bị cáo đã chi m đoạt có trị giá à 2 500 000 đ ng. Bị cáo thừa nhận hành vi của bị cáo là có tội, bị Tòa án cấp s thẩm xét xử về tội “Trộm c p tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự à đ ng, không oan, sai Bị cáo kháng cáo xin đ ợc h ởng án treo v i lý do hoàn cảnh gia đ nh bị cáo khó khăn, cha bị cáo bị bệnh, sức khỏe y u, bị hại có đ n xin cho bị cáo đ ợc h ởng án treo và xác nhận việc bị cáo đã bỏ tiền, bỏ công chăm sóc tr ng lại 02 cây mai t i tốt, bị cáo đang học l p Cao Đẳng kỹ thuật máy lạnh và điều hòa không khí năm thứ ba (năm cuối) của Tr ng Cao đẳng C điện xây dựng Việt Xô, n u bị cáo bị xử phạt tù thì bị cáo phải bỏ học.
Tại phiên tòa ph c thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân t nh Đ ng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi của bị cáo Nguyễn Minh H bị Tòa án cấp s thẩm xét xử về tội “Trộm c p tài sản” theo khoản Điều 73 ộ uật h nh sự à có căn cứ, đ ng ng i, đ ng tội và đ ng quy định của pháp uật. Tuy nhiên xét thấy sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã tích cực bỏ tiền, bỏ công ra chăm sóc để cho 02 cây mai không ch t, phát triển t i tốt, điều này đ ợc bị hại xác nhận, chứng tỏ bị cáo đã nhận thức đ ợc việc làm sai trái của mình, cố g ng kh c phục hậu quả từ hành vi phạm tội của bị cáo Đ ng th i, theo xác nhận ngày 17- 3- 2020 của Trung tâm dịch vụ việc làm t nh Đ ng Tháp thì bị cáo đang à sinh viên năm cuối của L p Cao đẳng kỹ thuật máy lạnh và điều hòa không khí khóa C6A 2 Tr ng Cao đẳng C điện xây dựng Việt Xô, bị cáo có nhân thân tốt, có n i c tr rõ ràng, phạm tội lần đầu và thuộc tr ng hợp ít nghiêm trọng nên cần tạo điều kiện để cho bị cáo ti p tục việc học, trở thành ng i có ích cho xã hội Do đó đề nghị Hội đ ng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự giữ nguyên hình phạt tù của Tòa án cấp s thẩm nh ng sửa án s thẩm cho bị cáo đ ợc h ởng án treo, th i gian thử thách à 0 năm 06 tháng
Tại phiên tòa phúc thẩm, Luật s H Thị uân H ng bào chữa cho bị cáo Nguyễn Minh H phát biểu: Thống nhất về tội danh mà Tòa án cấp s thẩm đã xét xử bị cáo H. Xin Hội đ ng xét xử xem xét cho bị cáo đ ợc h ởng án treo để bị cáo ti p tục hoàn thành việc học có nghề nghiệp ổn định để phụ gi p cho gia đ nh và thành ng i có ích cho xã hội, gia đ nh bị cáo gặp khó khăn, hiện tại cha bị cáo là th ng bệnh binh mất sức ao động, bị bệnh phải điều trị ở bệnh viện th ng xuyên n u bị cáo chấp hành án th gia đ nh bị cáo sẽ rất khó khăn Luật s thống nhất v i quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Bị cáo Nguyễn Minh H không tham gia tranh luận. Trong l i nói sau cùng, bị cáo xin đ ợc h ởng án treo để đ ợc ti p tục việc học và o cho gia đ nh.
NH N Đ NH CỦA T A N:
Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài iệu có trong h s vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định nh sau:
[1] Hội đ ng xét xử xét thấy bị cáo Nguyễn Minh H à ng i tr ởng thành, có đầy đủ sức khỏe và nhận thức để ao động chân chính tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân và có khả năng phân biệt đ ợc những hành vi đ ng, sai, tốt, xấu, nh ng v muốn mau chóng có tiền tiêu xài mà không cần phải ao động vất vả nên bị cáo đã trộm c p tài sản của ng i khác, giá trị tài sản bị trộm c p theo k t luận định giá là 2 500 000 đ ng.
[2] Xét Bản án hình sự s thẩm số 54/2019/HS-ST ngày 20- 11- 2019 của Tòa án nhân dân huyện C, t nh Đ ng Tháp k t án bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Trộm c p tài sản” theo quy định tại khoản Điều 173 Bộ luật hình sự à đ ng ng i, đ ng tội, đ ng pháp uật. Khi xét xử, Tòa án cấp s thẩm đã áp dụng các tình ti t giảm nhẹ cho bị cáo là phạm tội lần đầu và thuộc tr ng hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo; bị cáo có cha à th ng binh hạng 2, ông nội à th ng binh hạng 4, bị cáo đ ợc bị hại xin giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[3] Bị cáo kháng cáo xin đ ợc h ởng án treo, ng i bị hại có xác nhận việc bị cáo bỏ tiền, bỏ công chăm sóc, tr ng lại 02 cây mai. Xét thấy đây à việc bị cáo kh c phục hậu quả do tội phạm mà bị cáo gây ra, nên đây đ ợc xem là tình ti t giảm nhẹ theo quy định tại điểm b khoản Điều 51 Bộ luật hình sự, đây à t nh ti t giảm nhẹ m i phát sinh ở cấp phúc thẩm Đ ng th i, ngày 17- 3- 2020, Trung tâm dịch vụ việc làm t nh Đ ng Tháp có xác nhận bị cáo Nguyễn Minh H đang học năm cuối của L p Cao đẳng kỹ thuật máy lạnh và điều hòa không khí của Tr ng Cao đẳng C điện xây dựng Việt ô, khóa C6A 2 (năm học 2017- 2020) nên cần tạo điều kiện để bị cáo ti p tục việc học, trở thành ng i có ích cho xã hội.
[4] Xét thấy bị cáo Nguyễn Minh H có nhiều tình ti t giảm nhẹ quy định ở các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo ch a có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt, có n i c tr rõ ràng và cần tạo điều kiện để bị cáo ti p tục việc học, trở lại thành công dân tốt, có c hội gi p ích cho gia đ nh và xã hội trong t ng ai, ngoài ra cũng cần phải duy trì quan hệ t nh àng, nghĩa xóm giữa gia đ nh bị cáo và gia đ nh bị hại, nên không cần thi t phải cách ly bị cáo ra khỏi đ i sống xã hội có th i hạn mà cho bị cáo đ ợc miễn trách nhiệm hình phạt tù có điều kiện à cũng đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung, qua đó cũng để chứng minh tính nhân văn của pháp luật hình sự Xã hội chủ nghĩa V vậy, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa quy t định của Bản án s thẩm về hình phạt, giữ nguyên hình phạt t nh ng cho bị cáo đ ợc h ởng án treo.
[5] Xét thấy phát biểu của Kiểm sát viên, Luật s tại phiên tòa à có căn cứ chấp nhận.
[6] Do kháng cáo của bị cáo đ ợc chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí h nh sự ph c thẩm
[7] Các phần khác của Bản án s thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày h t th i hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT Đ NH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh H.
Sửa quy t định của Bản án hình sự s thẩm số 54/2019/HS- ST ngày 20- 11-2019 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, t nh Đ ng Tháp về phần h nh phạt đối v i bị cáo Nguyễn Minh H.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Trộm c p tài sản”
Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản và khoản 2 Điều 51; Điều 65 ộ uật H nh sự
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H 09 (Chín) tháng t nh ng cho h ởng án treo, th i gian thử thách là 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (20- 3- 2020).
Giao bị cáo Nguyễn Minh H cho Ủy ban nhân dân xã Ba S, huyện C, t nh Đ ng Tháp giám sát, giáo dục trong th i gian thử thách Gia đ nh của bị cáo có trách nhiệm phối hợp v i Ủy ban nhân dân xã Ba S trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong th i gian thử thách, n u bị cáo Nguyễn Minh H cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quy t định buộc bị cáo Nguyễn Minh H phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho h ởng án treo.
Tr ng hợp đang trong th i gian thử thách mà bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội m i, thì Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Minh H phải chấp hành hình phạt của bản án tr c và tổng hợp v i hình phạt của bản án m i theo quy định của Điều 56 Bộ luật hình sự.
Tr ng hợp bị cáo Nguyễn Minh H thay đổi n i c tr trong th i gian thử thách thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 20 9.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30- 02- 2016 của Ủy ban Th ng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Minh H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của quy t định bản án s thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày h t th i hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận - TANDTC- Vụ Giám đốc kiểm tra 1; - Ban Nội chính T nh ủy: - Sở T pháp T nh; - VKSND T nh; - C quan THAHS Công an T nh; - TA-VKS-THADS huyện C; - CQCSĐT Công an huyện C; - ị cáo; - Phòng h s nghiệp vụ Công an T nh; - Phòng KTNV-THA.TA T nh; - u: VT, HSVA (Loan). | TM. HỘI ĐỒNG T H C TH M TH M H N- CHỦ T A HI N T A Nguyễn Tuấn Anh |