vanban.org

Bản án 100/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 15/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố bị cáo Lưu Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

2/ Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Xử phạt bị cáo Lưu Văn T 10 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án 3/Về … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Lưu Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN DU
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2019/HS-ST
Ngày 15-10-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Quang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Sơn

Bà Nguyễn Thị Xuyến

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Thành -Thư ký TAND huyệ n Tiên Du

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Tiên Du , tỉnh Bắc N tham gia

phiên tòa: Bà Hoàng Thị Dung – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Du xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 103/2019/TLST-HS ngày 04/9/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2019/QĐXXST-HS ngày 02/10/2019 đối với bị cáo:

Lưu Văn T, sinh năm 1996; HKTT: Thôn Đ, xã N, huyệ n T, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giớ i tí nh: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lưu Văn N, sinh năm 1973 (Đã chế t) và con bà Nguyễ n Thị G, sinh năm 1972; Vợ, con: chưa có;

Tiền án: Không

Tiền sự có 01: Ngày 25/5/2018 Công an huyện Thuậ n Thà nh ra quyế t đị nh xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi : “Trự c tiế p xâm hạ i tớ i sứ c khỏ e củ a ngườ i khá c”.

Bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc N theo Quyết định tạm giam của Tòa án nhân dân huyệ n Thuậ n Thà nh, tỉnh Bắc N – Có mặt

* Bị hại: Chị Nguyễn Thúy N, sinh năm 1977 ( Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn N, xã M, huyện T, tỉnh Bắ c N

*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Anh Đỗ Duy K (tên gọi khác là K), sinh năm 1988 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Ninh

NỘ I DUNG VỤ Á N:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 09/02/2019 Nguyễn Văn H đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream không gắn biển kiểm soát đến nhà Lưu Văn T chơi. Tại đây, cả hai rủ nhau sang khu vực huyện Tiên Du để trộm cắp xe máy. Sau đó, T điề u khiể n xe chở H vừa đi vừa quan sá t hai bên đườ ng xem có ai sơ hở trong việ c quả n lý xe máy thì sẽ trộm cắp. Khi T điề u khiể n xe mô tô gầ n đến trước cổ ng nhà chị Nguyễ n Thị H ở thôn N, xã M, huyện T, tỉnh Bắ c Ninh thì phát hiện có chiế c xe mô tô nhã n hiệ u Honda Wave Anpha, sơn mà u trắ ng, BKS 99C1-194.23 của chị Nguyễn Thúy N đang dự ng tạ i đây . Thấy xung quanh vắng vẻ T điề u khiể n xe cá ch vị trí xe Honda Wave Anpha khoả ng 4 - 5 mét thì quay đầu xe cảnh giới còn H đi bộ đế n vị trí chiế c xe. H sử dụ ng chiế c vam phá khó a hình chữ “T” mà H đã mang theo sẵ n trong ngườ i, phá ổ khóa xe rồi nổ máy ngồi lên xe nhanh chóng điều khiển xe bỏ chạy. Sau đó H dùng cờ lê thá o b iể n số chiế c xe mô tô vừ a trộ m cắ p đượ c vứ t xuố ng sông Đuố ng . H điề u khiể n xe Honda Dream , T điề u khiể n chiế c xe Honda Wave Anpha đến cửa hàng cầm đồ của anh Đỗ Duy K đặt lại xe làm tin để vay số tiền 4.000.000 đồng. Số tiền có được T và H đã chia nhau chi tiêu cá nhân hết.

Sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại địa bàn huyện Tiên Du, T cùng H và một số đối tượng khác đã thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Anpha mầu trắng BKS 29B1-355.35 của anh Nguyễn Nam H1. Khi anh H1 yêu cầu trả lại xe, T đã đến trả anh K 4.200.000 đồng để chuộc chiếc xe Honda Wave Anpha mầu trắng trộm cắp ở huyện Tiên Du và nhờ anh K mang xe đến trả cho anh H1. Sau khi nhận xe, anh H1 phát hiện không phải xe của mình. Ngày 02/5/2019, anh Hải đã đến cơ quan CSĐT Công an huyện Thuận Thành giao nộp chiếc xe trên và trình báo nội dung sự việc . Ngày 28/6/2019, Cơ quan CSĐT Công an huyệ n Thuậ n Thà nh đã bà n giao chiếc xe trên cho cơ quan CSĐT Công an huyệ n Tiên Du để xử lý theo thẩ m quyề n.

Ngày 04/6/2019, chị N làm đơn trình báo Cơ quan CSĐT Công an huyện Tiên Du về nội dung sự việc. Tại Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tiên Du ngày 11/6/2019 kế t luậ n: 01 chiế c xe máy nhãn hiệu Honda Wave anpha , mầu sơn trắng - đen - bạc, BKS 99C1-194.23, SK 1215DY439479, SM HC12E5439590. Tài sản đã qua sử dụng . Giá trị còn lại là: 9.000.000 đồ ng.

Với nội dung trên, Cáo trạng số 92/CT - VKS ngày 03/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Tiên Du truy tố bị cáo Lưu Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo T khai nhận: Trưa ngày 09/02/2019 bị cáo điều khiển xe máy Honda Dream không gắn biển kiểm soát chở Nguyễn Văn H đi trộm cắp xe máy tại xã M, huyện Tiên Du. Bị cáo đứng cảnh giới còn H trực tiếp vào phá khóa lấy xe máy. Sau đó bị cáo mang chiếc xe máy trộm cắp được cầm cố để vay của anh K 4.000.000 đồng. Bị cáo và H cùng chi tiêu số tiền trên.

Bị hại chị N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt , lời khai có trong hồ sơ thể hiện : Ngày 18/7/2019, Cơ quan CSĐT Công an huyệ n Tiên Du đã trả chị chiếc xe máy Honda Wave. Đối với chiếc biển số không thu hồi được giá trị thấp nên chị không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, lời khai có trong hồ sơ thể hiện: Khi cho bị cáo vay tiền anh không biết chiếc xe máy giữ làm tin là tài sản do trộm cắp mà có. Bị cáo đã trả lại anh số tiền 4.000.000 đồng nên anh không có yêu cầu gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc N thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo Cáo trạng số 92/CT- VKS ngày 03/9/2019. Trong phần luận tội đã phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

1/Tuyên bố bị cáo Lưu Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2/ Hình phạt và điều luật áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lưu Văn T từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

3/ Về trách nhiệm dân sự: Không đề cập giải quyết.

4/ Về xử lý vật chứng: Không đề cập giải quyết

Tại phiên tòa hôm nay , bị cáo sau khi nghe luận tội của đạ i diệ n Việ n kiể m sát nhân dân huyện Tiên Du thừa nhận có tội và không tranh luận.

NHẬ N ĐỊ NH CỦ A TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ ngà y 09/02/2019, tại thôn N, xã M, huyện T, Lưu Văn T đã có hà nh vi trộ m cắ p 01 chiế c mô tô nhãn hiệu Honda Wave Anpha , màu trắng -đen-bạc, BKS 99C1-194.23 giá trị 9.000.0000 đồng của chị Nguyễ n Thúy N. Hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Ngoài ra còn gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân nơi xảy ra tội phạm. Do vậy cần áp dụng một hình phạt tương xứng với hành vi bị cáo đã phạm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thì thấy: Bị cáo không có tiền án nhưng có 01 tiền sự về hành vi trự c tiế p xâm hạ i tớ i sứ c khỏ e củ a ngườ i khá c . Ngoài ra ngày 13/5/2019 bị cáo bị cơ quan CSĐT Công an huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh khởi tố về tội Trộm cắp tài sản. Tuy không coi là tiền án nhưng cần đánh giá về nhân thân bị cáo khi lượng hình. Lần phạm tội này của bị cáo là lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra, truy tố, bị can đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo có nhân thân xấu. Ngoài hành vi phạm tội trên địa bàn huyện Tiên Du bị cáo còn thực hiện hành vi phạm tội trên địa bàn huyện Thuận Thành. Qua đây thể hiện thái độ coi thường pháp luật của bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Về trách nhiệm dân sự: Chị N, anh K đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an huyệ n Tiên Du đã Quyế t đị nh xử lý vậ t ch ứng trao trả chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Anpha , màu trắng (không biển kiểm soát) cho chị N là phù hợp. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, 01 vam phá khóa, 01 cờ lê là công cụ, phương tiện phạm tội theo bị cáo khai là của Nguyễn Văn H, do chưa lấy được lời khai của H nên hiện chưa thu giữ được các vật chứng trên. Bị cáo khai khi chuộc lại xe của anh K trả 4.200.000 đồng nhưng anh K khai chỉ nhận 4.000.000 đồng. Khi giao nhận tiền các bên không lập văn bản nên không có chứng cứ chứng minh anh K thu lời bất chính số tiền 200.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án căn cứ và o lờ i khai củ a Lưu Văn

T, Cơ quan CSĐT Công an huyệ n Tiên Du đã tiế n hà nh triệ u tậ p Nguyễ

n Văn H, sinh năm 2001 có hộ khẩu thường trú tại thôn Đ , xã Đ, huyệ n T, tỉnh Bắc Ninh để làm việ c. Tuy nhiên H không có mặ t tạ i nhà , gia đì nh và đị a phương không xá c đị nh đượ c H đi đâu, làm gì. Do vậ y Cơ quan CSĐT Công an huyệ n Tiên Du chưa có đủ căn cứ để xử lý H, khi nà o triệ u tậ p đượ c H sẽ điều tra làm rõ và xử lý sau . Đối với anh Đỗ Duy K là người cho T đặt lại chiếc xe mô tô Honda Wave Anpha mầu trắng để vay tiền. Tuy nhiên anh K không biết tài sản do T trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1/ Tuyên bố bị cáo Lưu Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

2/ Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Xử phạt bị cáo Lưu Văn T 10 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án

3/Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4/ Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt án.

Cỡ chữ