- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hon"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thanh Nh về việc xin ly hôn với anh Lại Tiến Đ.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LONG AN Bản án số: 100/2019/HNGĐ-ST Ngày: 07 - 6 - 2019 “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA – TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Hiệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Đổi.
2. Ông Lý Văn Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Quân là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Ngày 07 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 61/2019/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 86/2019/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thanh Nh, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Ấp Chánh, xã ĐLT, huyện ĐH, tỉnh LA
2. Bị đơn: Anh Lại Tiến Đ, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Ấp Chánh, xã ĐLT, huyện ĐH, tỉnh LA.
(Chị Nh xin vắng mặt, anh Đ vắng mặt – Đã triệu tập hợp lệ)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện về việc xin ly hôn ngày 11 tháng 10 năm 2018 và lời trình bày của nguyên đơn chị Nguyễn Thanh Nh tại phiên tòa xác định: Chị Nguyễn Thanh Nh và anh Lại Tiến Đ chung sống với nhau vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã ĐLT, huyện ĐH, tỉnh LA vào ngày 08/12/2014. Chị Nh và anh Đ sống chung hạnh phúc đến tháng 5 năm 2018 thì vợ chồng luôn phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cải vã lẫn nhau dẫn đến bất hòa. Từ đó, chị Nh và anh Đ ly thân nhau cho đến nay. Nay chị Nh xét thấy rằng vợ chồng không thể tiếp tục sống chung được nữa nên chị Nh xin ly hôn với anh Đ.
Về con chung: Chị Nh khai, chị Nh và anh Đ chung sống có 01 con chung tên Lại Phương Mai, sinh ngày 24 tháng 10 năm 2014 hiện chị Nh đang nuôi. Khi ly hôn, chị Nh xin được quyền tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị Nh khai, chị Nh và anh Đ chung sống không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị Nh khai, chị Nh và anh Đ chung sống không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Lại Tiến Đ, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh Đ không đến Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An làm việc hoặc phản hồi ý kiến của anh Đ về việc giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp là hôn nhân gia đình; Bị đơn anh Lại Tiến Đ có hộ khẩu thường trú tại ấp Chánh, xã ĐLT, huyện ĐH, tỉnh LA nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện ĐH, tỉnh LA theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thanh Nh xin vắng mặt; Bị đơn anh Lại Tiến Đ vắng mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Nh và anh Đ.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thanh Nh và anh Lại Tiến Đ chung sống với nhau vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã ĐLT, huyện ĐH, tỉnh LA vào ngày 08/12/2014 nên quan hệ hôn nhân giữa chị Nh và anh Đ là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chị Nh và anh Đ chung sống với nhau hạnh phúc đến tháng 5 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cải vã dù hai bên đã cố gắng hàn gắn để kéo dài cuộc sống hôn nhân nhưng không được nên ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị Nh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn nên tha thiết xin được ly hôn với anh Đ. Ngược lại, anh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng cố tình vắng mặt không đến Tòa án để tham gia hòa giải đoàn tụ cũng như không tham gia phiên tòa. Từ đó, Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn gia đình giữa chị Nh và anh Đ đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không còn đạt được và cuộc sống chung vợ chồng không thể kéo dài. Vì vậy, chị Nh yêu cầu được ly hôn với anh Đ là phù hợp Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Chị Nh khai, chị Nh và anh Đ chung sống có 01 con chung tên Lại Phương Mai, sinh ngày 24 tháng 10 năm 2014 hiện chị Nh đang nuôi. Khi ly hôn, chị Nh xin được quyền tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con. Ngược lại, anh Đ đã được triệu tập hợp lệ nhưng không phản hồi ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét nếu sau này có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
Về tài sản chung: Chị Nh khai, chị Nh và anh Đ chung sống không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngược lại, anh Đ đã được triệu tập hợp lệ nhưng không phản hồi ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét nếu sau này có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
Về nợ chung: Chị Nh khai, chị Nh và anh Đ chung sống không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngược lại, anh Đ đã được triệu tập hợp lệ nhưng không phản hồi ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét nếu sau này có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
Về án phí: Chị Nguyễn Thanh Nh phải chịu án phí ly hôn nhân gia đình sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 9, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thanh Nh về việc xin ly hôn với anh Lại Tiến Đ.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thanh Nh được ly hôn với anh Lại Tiến Đ.
Về con chung: Chị Nguyễn Thanh Nh được quyền tiếp tục nuôi con chung tên Lại Phương Mai, sinh ngày 24 tháng 10 năm 2014 hiện chị Nh đang nuôi. Anh Lại Tiến Đ không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị Nh không yêu cầu.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
Khi thấy cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thanh Nh phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn nhân gia đình sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước. Số tiền này được chuyển từ tiền tạm ứng án phí chị Nh đã nộp là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 4011 ngày 15 tháng 01 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa sang án phí để thi hành.
Án náy là sơ thẩm, các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện Đức Hòa; - Chi cục THADS huyện Đức Hòa; - Đương sự; - UBND xã Đức Lập Thượng; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Văn Hiệp |