vanban.org

Bản án 100/2019/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 16/05/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/05/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "tranh chấp quyền sử dụng đất"
  • Căn cứ chính? Điều 2 Luật Đất đai nă; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 1 Luật Đất đai nă
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2019/DS-PT
Ngày: 16-5-2019
V/v tranh chấp quyền sử
dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Ngô Văn Minh

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Thành Trung

Ông Nguyễn Văn Huỳnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Song Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- i di n i n i m s t nh n d n t nh nh ương tham gia phiên tòa: Bà Đặng Hà Nhung – i sát vi n.

Trong ngày 16 tháng 5 nă 2019, tại trụ s Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương, xét xử phúc thẩ công khai vụ án dân s thụ lý số 294/2018/TLPT-DS ngày 21 tháng 12 nă 2018, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân s sơ thẩ số 103/2018/DS-ST ngày 26/10/2018 của Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh Bình Dương ị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩ số 84/2019/QĐPT-DS ngày 22/02/2019, giữa các đương s :

- Nguyên đơn: Ông Phạ Văn M, sinh nă 1960; địa chỉ: Số 273B/16, khu phố N, phường B, thị xã D, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của nguy n đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh nă 1995; địa chỉ: Số 230 đường GS 1, khu phố Nhị Đ, phường Dĩ A, thị xã D, tỉnh Bình Dương (văn ản ủy quyền ngày 02/3/2018), có ặt.

Người ảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguy n đơn: Ông Mai Tiến L – Luật sư Công ty TNHH BigBoss Law thuộc Đoàn luật sư tỉnh Bình Dương, có ặt.

- Bị đơn: Bà Đinh Thị Phương L, sinh nă 1978; địa chỉ: Số 272B/16, khu phố N, phường B, thị xã D, tỉnh Bình Dương, có ặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Danh Thị Mỹ i L2, sinh nă 1953; địa chỉ: Số 272B/16, khu phố N, phường B, thị xã D, tỉnh Bình Dương, có ặt.

2. Bà Phan Thị L3, sinh nă 1953; địa chỉ: Số 272B/16, khu phố N, phường B, thị xã D, tỉnh Bình Dương, có đơn đề nghị xét xử vắng ặt.

3. Ông Đinh Ngọc A, sinh nă 1976; địa chỉ: Số 272B/16, khu phố N, phường B, thị xã D, tỉnh Bình Dương, có đơn đề nghị xét xử vắng ặt.

4. Anh Đinh Ngọc H, sinh nă 1991; địa chỉ: Số 272B/16, khu phố N, phường B, thị xã D, tỉnh Bình Dương, có ặt.

5. Trường CĐ GT Trung ương III; địa chỉ: Số 73 Văn Cao, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Đức Th - chức vụ: Hiệu trư ng, có đơn đề nghị xét xử vắng ặt.

- Người kháng cáo: Nguy n đơn Ông Phạ Văn M.

NỘI D NG V ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Ông Phạ Văn M là chủ sử dụng đất diện tích 162 2 thuộc thửa đất 1127, tờ ản đồ số 02, tọa lạc ấp N, xã B, huyện Th, tỉnh Sông Bé (nay là khu phố N, phường B, thị xã D, tỉnh Bình Dương) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H176152, số vào sổ 2483/QSDĐ/CQBA do Ủy an nhân dân huyện Th, tỉnh Sông Bé (nay là Ủy an nhân dân thị xã D, tỉnh Bình Dương) cấp ngày 16/8/1999. Giáp ranh với nhà, đất của Ông Phạ Văn M là nhà, đất của gia đình ông Đinh Trọng L, tiếp đến là nhà và đất của ông Trịnh Văn X. Nhà, đất của ông Loát, ông M và ông X đều do Trường Công nhân kỹ thuật 6 cấp, án hóa giá vào nă 1978 – 1979 cho công nhân vi n nhà trường có hoàn cảnh khó khăn; tình trạng đất khi đó có 01 căn nhà cấp 4 phía trước, phía sau là đất trống ỗi gia đình t trồng ột số cây ăn trái và ỗi gia đình có ột hầ cầu cuối đất; giữa đất nhà ông M, đất nhà ông Loát và nhà ông X không có ranh giới. Hiện nay căn nhà ông Loát, ông M phía trước vẫn còn nguy n hiện trạng nhà cũ. Ri ng đất trống phía sau, vào khoảng nă 1994, ông M có cho e trai là ông Phạ Minh Nh t nhờ và xây d ng th căn nhà cấp 4 phía sau. Tuy nhiên, việc xây d ng cũng không hết đất à vẫn chừa lại ột phần đất trống cuối đất giáp ranh với đất ông X và ông Nguyễn Mộng Đ. Nă 2006, chị Đinh Thị Phương Lan là con của ông Đinh Trọng L xây d ng th nhà đ hết phần đất trống phía sau, do không tr c tiếp n n Ông Phạ Văn M không iết chị L là con của ông Loát xây d ng th nhà tr n phần đất trống phía sau nhà của ông M. Nă 2017, khi ông M tiến hành đo đạc đ chuy n nhượng quyền sử dụng đất cho người khác thì phát hiện phần đất của ông M đang sử dụng thiếu khoảng 45 2 so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp. Ông M kh i kiện y u cầu Tòa án uộc chị L phải tháo dỡ phần nhà xây d ng tr n đất lấn chiế đ hoàn trả đất cho ông M diện tích đất theo kết quả đo đạc th c tế là 29,6 2.

- Bị đơn trong quá trình tham gia tố tụng trình bày: Cha chị Đinh Thị Phương Lan là ông Đinh Trọng L. Ông Loát chung sống với Bà Danh Thị Mỹ Kim L2 có 02 người con gồ chị L và anh Đinh Trọng A. Sau đó, ông Loát chung sống với Bà Phan Thị L3 có 01 người con chung là anh Đinh Ngọc H. Mặc dù hiện nay trong sổ hộ khẩu của gia đình chị L có tên bà Lg và anh A, nhưng người tr c tiếp sử dụng đất chỉ có chị L, anh Huân và à Luyến. Nguồn gốc nhà, đất này do ông Loát được Trường Công nhân kỹ thuật 6 cấp vào nă 1979 (vì ông Loát là công nhân của trường và việc cấp đất chỉ là giao nhà th c tế, không có giấy tờ), đến nă 1993, Trường Công nhân kỹ thuật 6 ới có Quyết định số 112/TC-HC ngày 24/3/1993 về việc cấp nhà cho ông Loát.

Nă 1995, ông Loát đăng ký, k khai quyền sử dụng đất n u tr n thuộc thửa 1128 với diện tích 118 2; giáp ranh thửa đất của gia đình chị L ột n là nhà, đất ông Trịnh Văn Xuân ột n là nhà, đất của Ông Phạ Văn M (ông X và ông M cũng thuộc diện được Trường Công nhận kỹ thuật 6 cấp nhà, đất vào nă 1979). hi đó phía sau những căn nhà này là đất trống; phần đất trống nhà chị L có chuồng nuôi heo và cuối đất ỗi nhà có 01 hầ cầu (hầ cầu nhà chị L, giáp đất trống nhà ông X, còn hầ cầu nhà ông M giáp đường òn ằng đất); giữa các phần đất trống phía sau nhà ỗi người không có ranh giới à các n sử dụng thẳng theo từ tường nhà của ình từ trước ra sau đến cuối đất. Nă 1986, ông M kéo hàng rào ằng dây kẽ làm ranh giới từ tường nhà phía trước đến hết đất. Nă 1994, bên ông M xây d ng căn nhà tr n phần đất trống và có hiện trạng như hiện nay cũng là ranh thẳng từ tường nhà của ông M đến hết đất. Th c tế, ông M không sử dụng phần đất nào giáp với đất nhà ông X à chỉ có gia đình chị L sử dụng giáp với đất của ông X. Nă 2006, thì chị L xây d ng th phần nhà phía sau hết phần đất trống, việc này ông M iết và không có ý kiến phản đối. Vì vậy, chị L không chấp nhận y u cầu kh i kiện của nguy n đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bà Danh Thị Mỹ Kim L2 trình bày: Bà là vợ của ông Đinh Trọng L, chung sống với ông Loát đến năm 1988 thì chuy n đi chỗ khác. Trong quá trình chung sống vợ chồng bà có 02 con chung là Đinh Ngọc Ấn và Đinh Thị Phương Lan. Bà thống nhất với lời trình ày và ý kiến của chị L về nhà đất.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bà Phan Thị L3 trình bày: Bà chung sống với ông Đinh Trọng L từ nă 1988 và có 01 con chung là Đinh Ngọc Huân. Bà thống nhất với lời trình ày và ý kiến của chị L về nhà đất.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đinh Ngọc A, anh Đinh Ngọc H trình bày: Anh A và anh Huân là con của ông Đinh Trọng L, các anh thống nhất với ý kiến trình bày của chị L về nhà, đất.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trường CĐ GT Trung ương III do ông Vũ Đức Thiệu là đại diện hợp pháp trình bày: Trường Công nhân kỹ thuật 6 trước đây qua nhiều lần sáp nhập, thay đổi nay là Trường CĐ GT Trung ương III, việc nhà trường cấp nhà và án hóa giá nhà cho ông Đinh Trọng L và Ông Phạ Văn M như thế nào thì không có thông tin và tài liệu gì. Đồng thời, ông Thiệu xác định Trường CĐ GT Trung ương III không có quyền lợi, nghĩa vụ gì li n quan đến tranh chấp quyền sử dụng đất giữa Ông Phạ Văn M và chị Đinh Thị Phương Lan.

Bản án dân s sơ thẩ số: 103/2018/DS-ST ngày 27/10/2018 của Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh Bình Dương tuy n xử:

hông chấp nhận y u cầu kh i kiện của Ông Phạ Văn M đối với chị Đinh Thị Phương Lan về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.

Ngoài ra, ản án còn tuy n về án phí, chi phí tố tụng, trách nhiệ chậ thi hành án và quyền kháng cáo của đương s .

Sau khi xét xử sơ thẩ , ngày 05/11/2018 nguy n đơn Ông Phạ Văn M kháng cáo toàn ộ ản án sơ thẩ của Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh Bình Dương.

Tại phi n tòa phúc thẩ : Người đại diện hợp pháp của nguy n đơn giữ nguy n y u cầu kh i kiện và y u cầu kháng cáo. Các đương s không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Ý kiến tranh luận của người ảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguy n đơn: Đề nghị Hội đồng xét xử xe xét sửa ản án sơ thẩ , chấp nhận y u cầu kh i kiện của nguy n đơn, uộc ị đơn trả lại cho nguy n đơn diện tích đất tranh chấp theo giấy chứng nhận nguy n đơn được cấp.

Đại diện Viện i sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát i u quan đi : Những người tiến hành tố tụng và tha gia tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩ đã th c hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân s về phi n tòa phúc thẩ . Về nội dung: Nguồn gốc đất tranh chấp là do Trường Công nhân kỹ thuật 6 cấp cho công nhân vi n của nhà trường. Quá trình cấp đất diện tích cấp cho ị đơn là 118m2 nhưng th c tế sử dụng là 136,6 2. Diện tích cấp cho nguy n đơn là 162m2 nhưng th c tế sử dụng là 117m2. Bị đơn bà L xây nhà từ nă 2006, nguy n đơn không iết do không sống tr n phần đất này (điều này được ị đơn thừa nhận tại phi n tòa). Xét thấy diện tích đất ỗi n không phù hợp th c tế, cả nguy n đơn và ị đơn đều có phần diện tích đất giáp đường DT745 ị giải tỏa, không tính phần diện tích giải tỏa thì nguy n đơn vẫn thiếu 29,6 2; ị đơn vẫn thừa 18,6 2. Có căn cứ chấp nhận ột phần y u cầu kháng cáo của nguy n đơn và sửa ản án sơ thẩ theo hướng chấp nhận ột phần y u cầu kh i kiện của ị đơn. Tuy nhi n, do phần đất 18,6 2 tranh chấp này đã được ị đơn xây d ng nhà cửa ki n cố, n n đề nghị Hội đồng xét xử sửa ản án sơ thẩ theo hướng chấp nhận ột phần y u cầu kh i kiện của nguy n đơn, uộc ị đơn ồi hoàn giá trị phần diện tích 18,6 2 theo i n ản định giá cấp sơ thẩ .

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghi n cứu các chứng cứ có tại hồ sơ được thẩ tra tại phi n tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phi n tòa, xét thấy:

Về tố tụng:

[1] Nguy n đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, n n hợp lệ, vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩ .

[2] Tòa án cấp sơ thẩ xác định các vấn đề về tố tụng như quan hệ pháp luật, thẩ quyền giải quyết vụ việc của Tòa án đều đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân s .

[3] Vụ án có người ảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguy n đơn là Ông Mai Tiến L. Tại phi n tòa sơ thẩ , ông Luật có phát i u ý kiến và tranh luận. Tuy nhi n, trong ản án sơ thẩ không th hiện ý kiến tranh luận của người ảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguy n đơn và Tòa án cấp sơ thẩ không nhận định đối với ý kiến đó là thiếu sót. Tuy nhi n, thiếu sót này không nghi trọng, vì không là ảnh hư ng quyền và lợi ích hợp pháp của đương s . Nhắc Tòa án cấp sơ thẩ rút kinh nghiệ .

[4] Nội dung: Xét y u cầu kh i kiện của nguy n đơn, thấy rằng trong suốt quá trình tha gia tố tụng, n nguy n đơn và n ị đơn có lời khai thống nhất với nhau về nguồn gốc đất của các n là do Trường Công nhân kỹ thuật 6 (nay là Trường CĐ GT Trung ương III) cấp cho nguy n đơn và cha ị đơn là ông Đinh Trọng L (nguy n đơn và ông Loát đều là công nhân vi n của trường) vào khoảng nă 1979; tình trạng đất khi được cấp phía trước lô đất của ỗi hộ đều có căn nhà cấp 4, phía sau là đất trống, không có hàng rào ranh giới. Căn cứ khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân s , thì những tình tiết này thuộc tình tiết, s kiện không phải chứng inh.

[5] Những tình tiết các n đương s có lời khai không thống nhất với nhau cần phải xe xét là nguy n đơn xác định phần đất đang tranh chấp là ột phần trong tổng diện tích đất 162 2 thuộc thửa 1127 ấp N, xã B, huyện Th (nay là khu phố N, phường B, thị xã D) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 2483/QSDĐ/CQBA do Ủy an nhân dân huyện Th, tỉnh Sông Bé (nay là UBND thị xã D, tỉnh Bình Dương) cấp ngày 16/8/1999 cho nguy n đơn; hình th thửa đất th hiện tr n giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nguy n đơn được cấp có hình chữ L, nhưng hiện nay th c tế đất nguy n đơn sử dụng hình th thửa đất là hình chữ I, diện tích chỉ còn 117 2, thiếu 45 2 do n ị đơn lấn chiế xây d ng th nhà vào nă 2006. B n ị đơn thì ngược lại cho rằng nă 1987 nguyên đơn đã lập hàng rào kẽ gai xác định ranh giới đất giữa hai n từ trước ra sau hết thửa đất theo tường nhà nguy n đơn; phần đất trống nguy n đơn đang tranh chấp là đất sau nhà ị đơn theo hiện trạng nhà, đất an đầu cha ị đơn được cấp.

[6] Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ th hiện cả nguy n đơn và cha ị đơn là ông Loát đều có đăng ký, k khai quyền sử dụng đất tại UBND xã B vào nă 1994, có t n trong sổ địa chính ( út lục 97, 180). Nguy n đơn đăng ký thửa 1127, diện tích 162 2; ngày 16/8/1999, nguy n đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng diện tích và số thửa đất và diện tích đất đăng ký; hình th thửa đất th hiện tr n giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nguy n đơn được cấp có “hình chữ L”. Cha ị đơn là ông Loát đăng ký thửa 1128, diện tích 118 m2; ông Loát có là thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hồ sơ của ông Loát đã được cơ quan có thẩ quyền tiếp nhận và in giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có thông tin như sau: Thửa đất ông Loát được cấp là 1128, diện tích 118m2; hình th thửa đất 1128 được in tr n giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tỷ lệ 1/2000 có “hình chữ I”; tứ cận hướng ắc giáp Hương Lộ 17 (nay là đường ĐT 743), hướng na và hướng tây giáp thửa 1127 (nguy n đơn đăng ký), hướng đông giáp thửa 1129; Trư ng phòng Nông Lâ Thủy huyện Th đã ký t n, đóng dấu, nhưng Chủ tịch UBND chưa ký t n đóng dấu. Theo ý kiến của UBND thị xã D tại Văn ản số 2489/UBND-NC ngày 21/9/2018 thì “ông Đinh Trọng L chưa th c hiện nghĩa vụ tài chính đ hoàn tất việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, trong trường hợp này ông Loát chưa được xe là đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” ( út lục 96).

[7] Tài liệu trong hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguy n đơn là “Đơn k khai nguồn gốc đất” diện tích 162 2 được ông Loát ký là chứng đất của nguy n đơn không ai tranh chấp và được UBND xã B, huyện Th (nay là UBND phường B, thị xã D) xác nhận (Bút lục 24).

[8] ết quả Tòa án cấp sơ thẩ xe xét thẩ định tại chỗ th hiện tại Bản đồ phục vụ giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất, do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Bình Dương lập, ký xác nhận ngày 20/8/2018 th hiện: Diện tích đất của nguy n đơn do n nguy n đơn xác định đo đạc là 146,6 2; diện tích tranh chấp 29,6 2; phần diện tích đất không tranh chấp là 117 2. So với diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nguy n đơn được cấp thì diện tích đất nguy n đơn th c tế sử dụng ít hơn 45 2. Diện tích đất ị đơn đang sử dụng và xác định ranh giới là 136,6 2 ao gồ cả diện tích đất tranh chấp, tr n đất tranh chấp có tài sản của ị đơn xây d ng gồ phòng thờ 5,8 2, phòng 20,5 2, sân bê tông 3,3 m2; so với diện tích đất cha ị đơn là ông Loát đăng ký, k khai thì diện tích đất ị đơn th c tế sử dụng nhiều hơn 18,6 2.

[9] ết quả đo đạc không xác định được diện tích đất tranh chấp thuộc thửa đất nào. Tại Công văn số 2489/UBND-NC ngày 21/9/2018 của Ủy an nhân dân thị xã D xác định thời đi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông M (nguy n đơn) là dạng cấp lần đầu, không đo đạc th c tế và sau khi tiến hành đo đạc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Bình Dương cũng trả lời “Việc lồng ghép ranh bản đồ năm 1995 là không thực hiện được và cũng không xác định được phần diện tích đất tranh chấp thuộc thửa nào, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ai vì bản đồ địa chính năm 1995 xã B lập bằng phương pháp ảnh hàng không, không đo đạc trực tiếp ngoài thực địa, các thửa đất không thể hiện khoảng cách các cạnh thửa đất”. Tại Công văn số 1498/VPĐ - ĐĐBĐ ngày 24/7/2018 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Bình Dương xác định không có cơ s lồng ghép và xác định phần đất tranh chấp thuộc thửa nào, với lý do như ý kiến của UBND thị xã D đã việc dẫn (Bút lục 62). Tuy nhi n, hình th thửa đất đo đạc xác định theo ý kiến của nguy n đơn (nghĩa là k cả phần đất tranh chấp) cũng có “hình chữ L” tương đối phù hợp với hình th thửa đất th hiện tr n giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nguy n đơn được cấp và tờ ản đồ địa chính chính quy xã B thành lập nă 1995 (Bút lục 99).

[10] ết quả Tòa án cấp phúc thẩ xe xét thẩ định tại chỗ ổ sung ngày 07/3/2019 th hiện phần ranh giới tiếp giáp giữa đất nguy n đơn và đất ị đơn (tính từ đường ĐT 743 vào) thì khoảng 1/3 chiều dài ranh giới là tường nhà của nguy n đơn và tường nhà của ị đơn liền kề nhau; khoảng 2/3 chiều dài ranh giới tiếp theo thì giữa tường nhà nguy n đơn và tường nhà ị đơn cách nhau ột khoảng trống có chiều rộng khoảng 1 do ị đơn chừa là lối đi vào phòng phía sau; tường nhà sau cùng của nguy n đơn chưa hết chiều dài thửa đất, ranh giới cuối đất là tường gạch không tô của nhà ị đơn, đoạn tường này là thay đổi hình th thửa đất của nguy n đơn (từ “hình chữ L” thành “hình chữ I”).

[11] Lời khai của ị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ li n quan là Bà Phan Thị L3 và à Danh Thị i Lang có thời gian sinh sống cùng ông Loát tại nhà, đất này đều có lời khai thống nhất là tình trạng nhà, đất của ông Loát và nhà, đất của n nguy n đơn sử dụng theo ranh giới ặc định từ trước ra sau (nghĩa là ranh đất lấy thẳng theo tường nhà phía trước). Tại phi n tòa phúc thẩ , bà Lg có ặt và xác định khi Trường Công nhân kỹ thuật 6 giao nhà cho ông M đã kéo hàng rào kẽ gai phân ranh giới từ trước ra sau thửa đất, nhưng không có chứng cứ gì chứng inh và điều này cũng không được n nguy n đơn thừa nhận. Th c tế là nă 2006, sau khi ông Loát chết (ông Loát chết nă 2005) thì ị đơn ới về đây sinh sống và là th nhà phần cuối lô đất đến nay (trước đó ị đơn có chồng sinh sống nơi khác). Tại phi n tòa phúc thẩ , ị đơn xác định vị trí hầ cầu an đầu

n trái giáp nhà ông X, nhưng chưa phải vị trí cuối cùng của thửa đất. Sau này cha ị đơn là ông Loát là lại hầ cầu cũng tại vị trí hầ cầu cũ và ngay tr n nền nhà do ị đơn xây th . Bà Lg xác định trước đây phần đất này là chuồng heo do ông Loát xây d ng, phía sau chuồng heo còn khoảng đất trống có hai cây na ( ãng cầu) do chủ đất cũ là gia đình à Phạ Thị Nga là chị gái của nguy n đơn trồng. Bà Phạ Thị Nga tham gia tố tụng với tư cách là người là chứng cho nguy n đơn, tại phi n tòa phúc thẩ bà Nga có ý kiến xác định nguồn gốc nhà, đất ị đơn hiện nay trước đây của gia đình à án cho Trường Công nhân kỹ thuật 6 đ cấp cho công nhân vi n nhà trường. Bà Nga xác định phần đất trống cuối thửa đất ị đơn đang sử dụng không phải đất của gia đình à. Hai cây na ( ãng cầu) do cha của à thấy đất trống n n trồng chứ không có ý định xác lập đất của ình. Như vậy, đã có căn cứ khẳng định phần đất đang tranh chấp thuộc vị trí, ranh giới thửa 1127 n nguy n đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; ranh giới đất hai n chưa xác lập rõ ràng; các n cũng không xác định được chính xác diện tích đất ỗi n sử dụng th c tế là ao nhi u 2 cho đến khi tranh chấp và có kết quả đo đạc của cơ quan chuy n ôn.

[12] Việc Tòa án cấp sơ thẩ nhận định “Thực tế hiện nay Ông Phạm Văn M đang sử dụng là ít hơn 45m2 so với diện tích được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gia đình chị Đinh Thị Phương Lan sử dụng nhiều hơn 18.6m2 so với diện tích ông Đinh Trọng L đăng ký kê khai nhưng diện tích Ông Phạm Văn M chỉ ranh và tranh chấp là 29.6m2. Ông Phạm Văn M chỉ căn cứ vào diện tích đất và hình thể thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp để cho rằng chị Đinh Thị Phương Lan lấn đất mà không đưa ra được chứng cứ nào khác chứng minh cho yêu cầu của mình” là chưa thuyết phục. B i lẽ, th c tế nă 1997 phần đất tiếp giáp đường ĐT 743 của cả n nguyên đơn và n ị đơn đều ị giải tỏa

rộng đường ĐT 745, vì đất giải tỏa thuộc hành lang an toàn đường ộ, n n không đền ù giá trị đất, chỉ lập hồ sơ đền ù công trình xây d ng tr n đất. Theo hồ sơ ki k , đền ù do Công ty Cổ phần vật liệu và xây d ng Bình Dương cung cấp thì phần “Nhà phụ trước” của n ị đơn phải giải tỏa là 9,12 2; phần “tường rào vi phạ ” của n nguy n đơn phải giải tỏa là 9,3 2. Như vậy, không tính diện tích đất các n ị giải tỏa thì đất của ị đơn vẫn sử dụng nhiều hơn diện tích đất ông Loát đăng ký là 18,6 m2 (cũng là tình tiết không phù hợp số liệu diện tích đất). Mặt khác, không có chứng cứ nào chứng inh ranh giới giữa đất nguy n đơn và ị đơn được xác lập như ị đơn trình ày. Th c tế, ị đơn ới xây d ng nhà (xây th ) tr n phần đất phía sau vào nă 2006 (điều này do ị đơn xác định) và ngoài phạ vi diện tích thửa 1128 ông Loát đăng ký, chính ột phần tường nhà xây th này tạo thành ranh giới thẳng như hiện nay (hai thửa đất đều tr thành “hình chữ I”). Tòa án cấp sơ thẩ nhận định có căn cứ công nhận ranh giới của các n theo quy định tại Điều 175 của Bộ luật Dân s nă 2015 là chưa có căn cứ vững chắc.

[13] Pháp luật đất đai của Nhà nước qua các thời kỳ đều quy định chế độ s hữu đất đai thuộc s hữu toàn dân, Nhà nước quản lý đất đai; xét cấp quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất khi họ th c hiện đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật về đất đai. hoản 6 Điều 73 Luật Đất đai nă 1993 quy định người sử dụng đất “Được Nhà nước ảo vệ khi ị người khác xâ phạ đến quyền sử dụng đất hợp pháp của ình”. Nguy n đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp. Bị đơn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do chưa th c hiện nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước, n n quyền lợi của nguy n đơn trong trường hợp này cần được ảo vệ trong phạ vi phù hợp.

[14] Xét diện tích đất của ỗi n sử dụng đều không phù hợp th c tế; cả nguy n đơn và ị đơn đều có ột phần diện tích đất giáp đường ĐT 745 ị giải tỏa, không tính diện tích đất ỗi n ị giải tỏa thì n nguy n đơn vẫn thiếu 29,6 m2 (146,6 m2 - 117 m2); n ị đơn vẫn thừa 18,6 2 (136,6m2 - 118m2). Tuy nhiên, hiện trạng đất ị đơn đã xây d ng nhà ổn định, khi xây d ng nguy n đơn không cản tr n n cần giữ nguy n hiện trạng sử dụng đất. Nguy n đơn kh i kiện y u cầu ị đơn tháo dỡ tài sản trả lại quyền sử dụng đất là không phù hợp.

[15] Như đã phân tích thì có căn cứ Tòa án chấp nhận ột phần y u cầu kh i kiện của nguy n đơn; ị đơn có nghĩa vụ thanh toán trị giá diện tích 18,6 m2 cho nguy n đơn. Diện tích 18,6 m2 thuộc giấy chứng nhận nguy n đơn được cấp là đất , giá Hội đồng định giá định là 6.000.000 đồng/ 2; trị giá thành tiền 18,6 m2 x 6.000.000 đồng/ 2 = 111.600.000 đồng. Bị đơn được quyền sử dụng đất theo hiện trạng th c tế sử dụng (phần ký hiệu A tr n ản vẽ) ao gồ cả diện tích tranh chấp là 29,6 2 (phần gạch chéo tr n sơ đồ ản vẽ kè theo ản án). Quyền lợi, nghĩa vụ của ị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ li n quan tha gia tố tụng với n ị đơn đối với quyền sử dụng đất này (tài sản chung hoặc thừa kế chung tài sản của ông Loát chết đ lại) do các n t thỏa thuận giải quyết; trường hợp có tranh chấp sẽ được giải quyết tại vụ án khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân s .

[16] Như đã phân tích phần tr n và hiện trạng sử dụng đất đã thay đổi không còn phù hợp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nguy n đơn được cấp và diện tích ông Loát đăng ký. Nhưng Tòa án cấp sơ thẩ không nhận định và quyết định về việc này là thiếu sót, sẽ dẫn đến việc quyền lợi của các n không được thi hành và ảo đả thủ tục pháp lý sau khi ản án có hiệu l c thi hành. Vì vậy, cần sửa ản án sơ thẩ .

[17] Y u cầu kháng cáo của nguy n đơn và ý kiến của người ảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguy n đơn là có căn cứ chấp nhận ột phần. Ý kiến của i sát vi n tha gia phi n tòa là phù hợp.

[18] Về chi phí tố tụng: Nguy n đơn, ị đơn ỗi người phải chịu ột nửa chi phí thẩ định tại chỗ và định giá tài sản.

[19] Về án phí dân s sơ thẩ : Đương s phải chịu theo quy định của pháp luật đối với vụ án có giá ngạch.

[20] Về án phí dân s phúc thẩ : Người kháng cáo không phải chịu.

Vì các lẽ tr n;

Q YẾT Đ NH:

- Căn cứ khoản 2, Điều 148; khoản 2, Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân s ;

- Căn cứ Điều 164, khoản 1 Điều 166 của Bộ luật Dân s ; Điều 1; khoản 1, khoản 3 Điều 2; khoản 6 Điều 73 của Luật Đất đai nă 1993;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội quy định về ức thu, iễn, giả , thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận ột phần y u cầu kháng cáo của nguy n đơn Ông Phạ Văn M. Sửa Bản án dân s sơ thẩ số 103/2018/DS-ST ngày 26/10/2018 của Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh Bình Dương như sau:

1.1. Chấp nhận ột phần y u cầu kh i kiện của nguy n đơn Ông Phạ Văn M đối với ị đơn Bà Đinh Thị Phương L về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.

1.2. Buộc ị đơn Bà Đinh Thị Phương L có nghĩa vụ thanh toán cho nguy n đơn Ông Phạ Văn M giá trị 18,6 2 đất, thành tiền là 111.600.000 ( ột tră ười ột triệu sáu tră nghìn) đồng.

từ ngày ản án, quyết định có hiệu l c pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc k từ ngày có đơn y u cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, n phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo ức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân s nă 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. hông chấp nhận ột phần y u cầu kh i kiện của nguy n đơn Ông Phạ Văn M đối với y u cầu ị đơn t tháo dỡ, di dời tài sản là nhà và công trình phụ tr n đất đ hoàn trả quyền sử dụng đất cho nguy n đơn toàn ộ diện tích đất tranh chấp là 29,6m2.

3. Bị đơn được xác lập quyền sử dụng đất đối với diện tích 29,6 2 đất tranh chấp, có nghĩa vụ đăng ký k khai diện tích đất n u tr n chung với quyền sử dụng đất ị đơn đang quản lý, sử dụng theo hiện trạng ranh giới th c tế; th c hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

4. iến nghị Ủy an nhân dân thị xã D, tỉnh Bình Dương thu hồi, điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 2483/QSDĐ/CQBA ngày 16/8/1999 do UBND huyện Th, tỉnh Sông Bé (nay là UBND thị xã D, tỉnh Bình Dương) cấp cho Ông Phạ Văn M theo hướng giả diện tích đất từ 162 2 xuống còn 117m2 theo đúng hiện trạng Ông Phạ Văn M quản lý, sử dụng (phần diện tích ký hiệu A tr n ản vẽ).

5. Chi phí tố tụng (chi phí xe xét thẩ định tại chỗ và chi phí định giá tài sản): Nguy n đơn Ông Phạ Văn M và ị đơn Bà Đinh Thị Phương L ỗi người phải chịu ột nửa chi phí tố tụng trong tổng số 5.581.000 đồng. Nguyên đơn được khấu trừ vào số tiền 5.581.000 đồng đã nộp tại Tòa án cấp sơ thẩ . Bị đơn có nghĩa vụ hoàn trả cho nguy n đơn số tiền 2.790.500 đồng (hai triệu ảy tră chín ươi nghìn nă tră đồng).

6. Về án phí dân s sơ thẩ :

6.1. Nguy n đơn Ông Phạ Văn M phải chịu 3.300.000 đồng án phí dân s sơ thẩ được khấu trừ số tiền tạ ứng án phí đã nộp là 900.000 đồng tại các Bi n lai thu tiền số 0019379 ngày 08/5/2018 và số 0020095 ngày 06/9/2018 của Chi cục Thi hành án dân s thị xã D. Ông M còn phải nộp 2.400.000 (hai triệu ốn tră nghìn) đồng.

6.2. Bị đơn Bà Đinh Thị Phương L phải nộp 5.580.000 (nă triệu năm tră tá ươi nghìn) đồng tiền án phí dân s sơ thẩ .

7. Về án phí dân s phúc thẩ : Hoàn trả cho nguy n đơn Ông Phạ Văn M 300.000 ( a tră nghìn) đồng tiền tạ ứng án phí phúc thẩ đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0020368 ngày 02/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân s thị xã D.

8. è theo ản án là sơ đồ đo đạc hiện trạng sử dụng đất.

Bản án phúc thẩ có hiệu l c pháp luật k từ ngày tuy n án.

Trường hợp ản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân s thì người được thi hành án dân s , người phải thi hành án dân s có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền y u cầu thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc ị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân s ; thời hiệu thi hành án được th c hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân s ./.

Cỡ chữ