vanban.org

Bản án 100/2019/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 25/09/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/09/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2019/DS-ST ngày 24/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản; tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn anh Lê Duy Huy, chị Trần Thị Thanh Thương; bị đơn anh Tăng Ngọc Lợi, ch…

Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Về án phí: Hoàn trả cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn Thìn số tiền 300.000 đồng đã tạm nộp theo biên lai thu số 0001274 ngày 21/6/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà. Án ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "huy lợi"
  • Tòa quyết gì? Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2019/DS-ST ngày 24/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản; tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn anh Lê Duy Huy, chị Trần Thị Thanh Thương; bị đơn anh Tăng Ngọc Lợi, ch…
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2019/DS-PT
Ngày: 25 - 9 - 2019
V/v tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản;
tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Bùi Hữu Nhân

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Duy Hoài

Bà Lê Thị Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Mai - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng: Bà Đỗ Thị Thúy - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 25 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 87/2019/TLPT-DS ngày 11 tháng 7 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản; tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2019/DS-ST ngày 24/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 222/2019/QĐ-PT ngày 29/8/2019; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 237/2019/QĐ-PT ngày 17/9/2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lê Duy Huy, sinh năm: 1980; chị Trần Thị Thanh Thương, sinh năm: 1984; địa chỉ: Tổ dân phố Đồng Tiến, thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Lê Duy Huy, chị Trần Thị Thanh Hương:

Ông Dương Đình Nam, sinh năm: 1974; địa chỉ: 66 thôn Tân Đức, xã Tân Hà, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Văn bản ủy quyền ngày 26/6/2019.

- Bị đơn: Anh Tăng Ngọc Lợi, sinh năm: 1975; chị Phạm Thị Nga, sinh năm: 1981; địa chỉ: 35 tổ dân phố Đoàn Kết, thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/. Ông Trần Văn Thìn, sinh năm: 1966; địa chỉ: Tổ dân phố Tân Tiến, thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn Thìn:

Chị Trần Thị Ánh Lý, sinh năm: 1989; địa chỉ: Tổ dân phố Tân Tiến, thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Văn bản ủy quyền ngày 22/01/2018.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn Thìn:

Luật sư Nguyễn Phương Đại Nghĩa; Văn phòng luật sư Nguyễn Phương Đại Nghĩa; địa chỉ: 11A Trần Lê (mặt sau), Phường 4, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

2/. Anh Phạm Xuân Kiên, sinh năm: 1978; chị Nguyễn Thị Nga, sinh năm: 1981; địa chỉ: Tổ dân phố Đoàn Kết, thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Xuân Kiên, chị Nguyễn Thị Nga:

Bà Trần Thị Phượng, sinh năm: 1953; địa chỉ: Tổ dân phố Đoàn Kết, thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Văn bản ủy quyền ngày 24/5/2019 và ngày 13/9/2019.

3/. Anh Phạm Hồng Chiến, sinh năm: 1990; chị Trần Thị Minh Duyên, sinh năm: 1987; địa chỉ: 32 tổ dân phố Đoàn Kết, thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Hồng Chiến, chị Trần Thị Minh Duyên:

Bà Trần Thị Phượng, sinh năm: 1953; địa chỉ: Tổ dân phố Đoàn Kết, thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Văn bản ủy quyền ngày 24/5/2019 và ngày 13/9/2019.

4/. Anh Phạm Công Trung, sinh năm: 1976; địa chỉ: Tổ dân phố Đoàn Kết, thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Công Trung:

Bà Trần Thị Phượng, sinh năm: 1953; địa chỉ: Tổ dân phố Đoàn Kết, thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Văn bản ủy quyền ngày 13/9/2019.

5/. Ông Lương Viết Chung, sinh năm: 1963; bà Trần Thị Tâm, sinh năm: 1968; địa chỉ: Tổ dân phố Văn Tâm, thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Ông Chung vắng mặt; bà Tâm có mặt.

6/. Ông Phạm Văn Xã, sinh năm: 1949; bà Trần Thị Phượng, sinh năm: 1953; địa chỉ: Tổ dân phố Đoàn Kết, thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Ông Xã Vắng mặt; bà Phượng có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn Xã:

Bà Trần Thị Phượng, sinh năm: 1953; địa chỉ: Tổ dân phố Đoàn Kết, thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Văn bản ủy quyền ngày ngày 13/9/2019.

- Người kháng cáo: + Ông Trần Văn Thìn - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

+ Ông Phạm Văn Xã - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án nguyên đơn anh Huy, chị Thương cũng như người đại diện theo ủy quyền của anh Huy, chị Thương là anh Nam trình bày:

Ngày 17/10/2017, vợ chồng anh Lê Duy Huy, chị Trần Thị Thanh Thương có cho vợ chồng anh Tăng Ngọc Lợi, chị Phạm Thị Nga vay số tiền 7.000.000.000đ. Thời hạn vay: Kể từ ngày 17/10/2017 đến ngày 26/10/2017 vợ chồng anh Lợi, chị Nga sẽ trả cho vợ chồng anh Huy, chị Thương số tiền 3.000.000.000đ và đến ngày 17/11/2017 trả hết số tiền 4.000.000.000đ. Khi vay hai bên có ký Hợp đồng vay tiền không có biện pháp bảo đảm, số công chứng 7277 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Mậu An. Đến hạn, vợ chồng anh Lợi, chị Nga không trả tiền cho vợ chồng anh Huy, chị Thương mặc dù vợ chồng anh Huy, chị Thương đã nhiều lần yêu cầu. Nay vợ chồng anh Huy, chị Thương yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng anh Lợi, chị Nga trả số tiền gốc là 7.000.000.000đ và số tiền lãi suất theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án, do vợ chồng anh Tăng Ngọc Lợi, chị Phạm Thị Nga đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác với mục đích là nhằm tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn đã làm đơn đề nghị Tòa án phong tỏa tài sản của anh Lợi, chị Nga để đảm bảo việc thi hành án sau này. Tại quyết định số 10/2017/QĐ-BPKCTT ngày 14/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà đã phong tỏa các tài sản của vợ chồng anh Lợi, chị Nga gồm:

- Diện tích đất 1621m2 thửa 308, tờ bản đồ số 33, bộ bản đồ thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sốAĐ 272658 do Ủy ban nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng cấp;

- Diện tích đất 1227m2 thuộc các thửa đất số 374, 382, 405, 534, 535, 536, 559, 617, 638 tờ bản đồ số 33, bộ bản đồ thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sốAĐ 272749 do Ủy ban nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng cấp;

- Diện tích đất 792m2 thuộc các thửa đất số 46, 47, 48, tờ bản đồ số 32, bộ bản đồ thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU 336035 do Ủy ban nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 12/5/2014;

- Diện tích đất 572m2 thuộc các thửa đất số 41, 42, 43, tờ số 32, bộ bản đồ thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU 336034 do Ủy ban nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 12/5/2014;

- Diện tích đất 1860m2 thuộc các thửa đất số 290, 291, 297, 299, tờ bản đồ số 33, bộ bản đồ thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 081449 do Ủy ban nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 28/01/2015;

- Diện tích đất 290m2 thuộc các thửa đất số 312, 317, bộ bản đồ thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 081448 do Ủy ban nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 28/01/2015;

- Diện tích đất 1198m2 thuộc các thửa đất số 166, 167, 168, 169, 173, 174, tờ bản đồ số 32, bộ bản đồ thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 081440 do Ủy ban nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 28/01/2015;

- Diện tích đất 362m2 thuộc các thửa đất số 1563, 1564 (thửa cũ là thửa 27), tờ bản đồ số 32, bộ bản đồ thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 053576 do Ủy ban nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 11/12/2014;

- Diện tích đất 1626m2 thuộc các thửa đất số 123, 124, 125, 126, 127, 128, tờ bản đồ số 32, bộ bản đồ thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 081442 do Ủy ban nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 28/01/2015;

- Diện tích đất 642m2 thuộc thửa đất số 1536, tờ bản đồ 32 bộ bản đồ thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 473729 do Ủy ban nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 20/9/2012;

- Diện tích đất 1068m2 thuộc các thửa đất số 816, 817, 820, 821, tờ bản đồ số 33, bộ bản đồ thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 081441 do Ủy ban nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 28/01/2015;

- Diện tích đất 836m2 thuộc các thửa đất số 31, 51, 52, 53, 54, tờ bản đồ số 32 bộ bản đồ thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BA 839997 do Ủy ban nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng cấp tháng 3/2010;

- Diện tích đất 7793m2 thuộc thửa đất số 1195, tờ bản đồ số 33 bộ bản đồ thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 473752 do Ủy ban nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 24/9/2012.

Nay anh Nam đề nghị Tòa án tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 10/2017/QĐ-BPKCTT ngày 14/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà.

Ngoài ra anh Nam không có yêu cầu gì khác.

Bị đơn vợ chồng anh Lợi, chị Nga ủy quyền cho anh Hoàng Thế Nhiên theo văn bản ủy quyền ngày 21/12/2017, đến ngày 17/7/2018 anh Hoàng Thế Nhiên có thông báo về việc từ chối nhận ủy quyền, trước đó tại bản tự khai ngày 24/02/2018 anh Hoàng Thế Nhiên trình bày:

Anh Nhiên thừa nhận vợ chồng anh Lợi, chị Nga có nợ vợ chồng anh Huy, chị Thương số tiền 7.000.000.000đ theo như đơn khởi kiện của vợ chồng anh Huy, chị Thương. Khi nào vợ chồng anh Lợi, chị Nga có tiền sẽ thanh toán cho vợ chồng anh Huy, chị Thương. Anh không đồng ý với yêu cầu về số tiền lãi suất theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì hai bên không thỏa thuận về tiền lãi suất. Ngoài ra, anh Nhiên không trình bày gì thêm.

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai của người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn Thìn là chị Trần Thị Ánh Lý trình bày:

Vào ngày 15/11/2017, chị Phạm Thị Nga có trao đổi với ông Trần Văn Thìn là chị Nga không còn khả năng thanh toán cho ngân hàng TMCP đầu tư & phát triển Việt Nam – chi nhánh Đức Trọng số tiền cả gốc và lãi là khoảng hơn 1.900.000.000đ. Đồng thời chị Nga đề nghị ông Thìn nhận chuyển nhượng một số các thửa đất mà Tòa án đã ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 10/2017/QĐ-BPKCTT ngày 14/12/2017, ngoài ra còn thửa đất số 1090 và thửa 673, tờ bản đồ 33, bản đồ địa chính thị trấn Đinh Văn. Do chị Nga muốn đảm bảo chỗ ở cho bố mẹ chị Nga và anh chị em chị Nga còn ông Thìn cần đất mở trang trại gà nên ông Thìn đồng ý nhận chuyển nhượng.

Ngày 24/11/2017, vợ chồng anh Tăng Ngọc Lợi, chị Phạm Thị Nga và ông Thìn tiến hành lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Văn phòng công chứng Nguyễn Đức Tuấn. Trong hợp đồng chuyển nhượng ghi giá chuyển nhượng là 100.000.000đ nhưng giá trị chuyển nhượng thực tế là 2.800.000.000đ. Lý do giá trị hợp đồng chuyển nhượng ghi số tiền ít hơn nhiều so với giá trị chuyển nhượng thực tế là do ông Thìn không hiểu biết về pháp luật nên khai số tiền ít để được giảm thuế và các chi phí phát sinh khác.

Đến khi Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời về việc phong tỏa tài sản để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của chị Nga, anh Lợi trong vụ kiện của anh Huy, chị Thương thì ông Thìn có nhận được quyết định áp dụng biện pháp tạm thời số 10/2017/QĐ-BPKCTT ngày 14/12/2017 của Tòa án huyện Lâm Hà. Lý do ông Thìn không khiếu nại quyết định này vì ông Thìn phải đưa mẹ đẻ ông Thìn đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Lâm Đồng, sau đó lại lo việc tang.

Nay ông Thìn cho rằng Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà ban hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nêu trên làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông do vậy ông Thìn đề nghị Tòa án hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp tạm thời số 10/2017/QĐ-BPKCTT ngày 14/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà. Đồng thời, ông Thìn yêu cầu Tòa án duy trì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 24/11/2017 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Đức Tuấn giữa vợ chồng anh Tăng Ngọc Lợi, chị Phạm Thị Nga và ông Trần Văn Thìn đối với các thửa đất mà Tòa án đã phong tỏa theo quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 10 để ông Thìn hoàn tất thủ tục chuyển quyền sử dụng đất. Trong mọi trường hợp ông Thìn yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vợ chồng anh Chiến, chị Duyên trình bày:

Năm 2015, anh chị có nhận chuyển nhượng diện tích đất 2.000m2 trong số diện tích đất 7793m2 thuộc thửa đất số 1195, tờ bản đồ số 33, bản đồ địa chính thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà của chị Phạm Thị Nga, anh chị đã trả đủ tiền, nhưng chưa tách thửa và chưa làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Do cần tiền làm ăn nên chị Nga đã hỏi anh chị để mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng diện tích đất 642m2 thuộc thửa đất số 1536, tờ bản đồ 32, bản đồ địa chính thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà và cả phần đất chưa tách nói trên để thế chấp vay tiền ở ngân hàng.

Nay anh chị đề nghị Tòa án không phong tỏa diện tích đất trên để anh chị tiếp tục được sử dụng và canh tác, anh chị không đồng ý với yêu cầu độc lập của ông Trần Văn Thìn. Ngoài ra, anh chị không có ý kiến gì khác và không trình bày gì thêm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Xuân Kiên trình bày:

Năm 2015, vợ chồng anh, chị có cho chị Nga mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất số 312, 317, 290, 291, 297, 299, tờ bản đồ số 33, bản đồ địa chính thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà và đã sang tên cho chị Phạm Thị Nga để chị Nga thế chấp vay vốn làm ăn. Nay anh đề nghị Tòa án không phong tỏa diện tích đất trên để vợ chồng anh tiếp tục được sử dụng và canh tác diện tích đất nói trên, anh không đồng ý với yêu cầu độc lập của ông Trần Văn Thìn. Ngoài ra, anh không có yêu cầu gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Tâm trình bày:

Tháng 4/2017, bà có cho chị Phạm Thị Nga vay số tiền 1.300.000.000đ để đáo hạn ngân hàng, chị Nga hẹn 03 ngày trả nhưng sau đó chị Nga nói bị lừa nên không còn khả năng chi trả, chị Nga có viết giấy thỏa thuận để bà vào ở căn nhà của chị Nga trên thửa đất 1563, tờ bản đồ số 32, bản đồ địa chính thị trấn Đinh Văn, đến khi nào chị Nga trả tiền cho bà thì bà sẽ trả lại nhà cho chị Nga.

Nay Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ trong đó có diện tích đất nói trên có căn nhà gia đình bà đang ở thì bà không đồng ý, khi nào chị Nga trả tiền cho bà thì bà sẽ trả lại nhà cho chị Nga. Qua nội dung vụ án thì bà không có yêu cầu gì, bà không đồng ý với yêu cầu độc lập của ông Trần Văn Thìn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Công Trung trình bày:

Anh có cho chị Nga mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 1068m2 thuộc các thửa đất số 816, 817, 820, 821, tờ bản đồ số 33, bộ bản đồ địa chính thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 1621m2 thửa 308, tờ bản đồ số 33, bộ bản đồ địa chính thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà và đã sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị Nga để chị Nga vay vốn làm ăn.

Nay anh đề nghị Tòa án không phong tỏa các diện tích đất trên để anh tiếp tục được sử dụng và canh tác, anh không đồng ý với yêu cầu độc lập của ông Trần Văn Thìn. Ngoài ra, anh không có yêu cầu gì khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Phượng trình bày:

Vợ chồng bà đã cho vợ chồng con gái bà là chị Phạm Thị Nga, anh Tăng Ngọc Lợi mượn 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm thủ tục vay vốn ngân hàng, vợ chồng bà đã làm thủ tục sang tên cho vợ chồng anh Lợi, chị Nga. Sau đó một thời gian thì vợ chồng anh Lợi, chị Nga làm thủ tục chuyển nhượng cho ông Trần Văn Thìn diện tích đất theo 15 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong đó có 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là của vợ chồng bà đối với diện tích đất 120m2, thuộc thửa 1564 , tờ bản đồ số 32, bộ bản đồ địa chính thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà; Diện tích đất 1198m2 thuộc các thửa đất số 166, 167, 168, 169, 173, 174, tờ bản đồ số 32, bộ bản đồ địa chính thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà; Diện tích đất 1626m2 thuộc các thửa đất số 123, 124, 125, 126, 127, 128, tờ bản đồ số 32, bộ bản đồ địa chính thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà. Trong 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên thì có một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có diện tích là 120m2, thuộc thửa 1564, tờ bản đồ số 32, bộ bản đồ địa chính thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà là diện tích có căn nhà tình nghĩa được Phòng Lao động thương binh và xã hội huyện Lâm Hà và UBND thị trấn Đinh Văn hỗ trợ xây dựng cho vợ chồng bà năm 2013 và hiện nay vợ chồng bà đang sinh sống trên căn nhà này, bà đề nghị Tòa án xem xét để bà cùng các con có nhà ở và có đất để canh tác. Nay vợ chồng bà không đồng ý với yêu cầu độc lập của ông Trần Văn Thìn. Ngoài ra, bà không trình bày gì thêm.

Tại đơn xin ý kiến ngày 21/9/2018, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn Xã trình bày:

Ngày 07/9/2018, ông có nhận được thông báo của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà về việc thụ lý yêu cầu độc lập của ông Trần Văn Thìn. Ngày 30/8/2018, ông Trần Văn Thìn và con ông là Tăng Ngọc Lợi, Phạm Thị Nga có ra văn phòng công chứng ở Đức Trọng chuyển nhượng 15 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong số 15 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì có 08 sổ là của vợ chồng ông cùng các con cho anh Tăng Ngọc Lợi, chị Phạm Thị Nga mượn để thế chấp ngân hàng vay vốn. Ông có ý kiến như sau: Diện tích đất của vợ chồng ông gồm: Thửa 1564 diện tích 120m2; các thửa 166, 167, 168, 169, 173, 174 diện tích 1198m2; các thửa 123, 124, 125, 126, 127, 128 diện tích 1626m2, đều thuộc tờ bản đồ 32. Trong đó, anh Phạm Công Trung sử dụng thửa đất số 308 có diện tích 1621m2; các thửa 816, 817, 820, 821 có diện tích 1068m2, tờ bản đồ số 33. Diện tích đất vợ chồng anh Phạm Xuân Kiên, chị Nguyễn Thị Nga sử dụng gồm: Thửa 290, 291, 297, 299 có diện tích 1860m2; các thửa 312, 317 có diện tích 290m2, tờ bản đồ 33. Diện tích đất vợ chồng anh Chiến, chị Duyên sử dụng gồm thửa 1563 diện tích 642m2, tờ bản đồ 33. Trong số diện tích đất 7.793m2 của thửa 1195, tờ bản đồ 33 thì vợ chồng anh Lợi, chị Nga đã bán cho vợ chồng anh Chiến 2000m2 đã có giấy sang nhượng do Ủy ban nhân dân thị trấn Đinh Văn ký. Nay ông đề nghị Tòa án xem xét giúp đỡ cho gia đình ông số diện tích đất trên để gia đình ông có nhà ở, có đất để làm ăn sinh sống. Ngoài ra, ông Phạm Văn Xã không trình bày gì thêm.

Đối với chị Nguyễn Thị Nga, ông Lương Viết Chung đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc, không có văn bản nêu ý kiến nên không có lời khai tại Tòa án.

Tòa án đã hòa giải nhưng bị đơn và một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên không hòa giải được.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là anh Dương Đình Nam giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả tiền gốc là 7.000.000.000đ và trả tiền lãi suất theo quy định của pháp luật từ ngày vay đến ngày Tòa án xét xử.

Đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn Thìn là chị Trần Thị Ánh Lý giữ nguyên ý kiến và lời trình bày như đã nêu ở trên. Đồng thời chị Lý đề nghị nếu Tòa án tiếp tục duy trì quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 10/2017/QĐ-BPKCTT ngày 14/12/2017 thì chị yêu cầu Tòa án buộc nguyên đơn phải nộp bổ sung khoản tiền bảo đảm vì thực tế giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 2.800.000.000đ.

Bà Phượng, anh Trung giữ nguyên ý kiến, yêu cầu của mình.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2019/DS-ST ngày 24/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà đã xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của vợ chồng anh Lê Duy Huy, chị Trần Thị Thanh Thương về việc “Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản” với vợ chồng anh Tăng Ngọc Lợi, chị Phạm Thị Nga. Buộc vợ chồng anh Tăng Ngọc Lợi, chị Phạm Thị Nga phải trả cho vợ chồng anh Lê Duy Huy, chị Trần Thị Thanh Thương số tiền gốc là 7.000.000.000đ, tiền lãi suất là 1.079.167.000đ, cộng chung là 8.079.167.000đ (Tám tỷ, không trăm bảy mươi chín triệu một trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Trần Văn Thìn. Tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đã ký giữa ông Trần Văn Thìn và vợ chồng anh Tăng Ngọc Lợi, chị Phạm Thị Nga, được công chứng tại phòng công chứng Nguyễn Đức Tuấn ngày 24/11/2017 đối với các thửa đất số 41, 42, 43, 46, 47, 48, 31, 51, 52, 53, 54, 123, 124, 125, 126, 127, 128, 166, 167, 168, 169, 173, 174, 1536, 1563, 1564, tờ bản đồ 32; các thửa 290, 291, 297, 299, 308, 312, 317, 374, 382, 405, 534, 535, 536, 559, 617, 638, 816, 817, 820, 821, 1195, tờ bản đồ 33, bản đồ địa chính thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng là vô hiệu.

Ngoài ra, quyết định của bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo và trách nhiệm thi hành án của các đương sự.

Ngày 07/6/2019, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn Thìn kháng cáo.

Ngày 18/6/2019, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn Xã kháng cáo.

Đối với một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2019/DS-ST ngày 24/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà.

Những vấn đề cụ thể trong đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết bao gồm:

1/. Ông Trần Văn Thìn đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của ông Thìn; tuyên công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã ký giữa ông và anh Lợi, chị Nga đối với các diện tích đất mà Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà đã ra quyết định phong tỏa theo Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 10/2017/QĐ-BPKCTT ngày 14/12/2017;

2/. Ông Phạm Văn Xã đề nghị xem xét lại một phần bản án dân sự sơ thẩm để ông Xã có yêu cầu độc lập, yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông và anh Lợi, chị Nga đối với các diện tích đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY081442; BY081440; BV053576; BL473729.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn Thìn, người đại diện theo ủy quyền của ông Thìn là chị Trần Thị Ánh Lý, cũng như người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Thìn là luật sư Nguyễn Phương Đại Nghĩa vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đề nghị chấp nhận kháng cáo. Người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Văn Xã là bà Trần Thị Phượng vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của ông Xã và đề nghị chấp nhận kháng cáo. Về phía nguyên đơn anh Huy, chị Thương do ông Dương Đình Nam đại diện theo ủy quyền và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Tâm đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, cụ thể Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa dân sự phúc thẩm; đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn Thìn; không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn Xã; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Xuất phát từ việc nguyên đơn anh Huy, chị Thương cho rằng anh chị có cho bị đơn anh Lợi, chị Nga vay số tiền 7.000.000.000 đồng, đến hạn trả nợ anh chị đã đòi nhiều lần nhưng anh Lợi, chị Nga không trả, trong quá trình giải quyết vụ án anh chị có yêu cầu áp dụng khẩn cấp tạm thời và Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà đã áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa các tài sản là diện tích đất của anh Lợi, chị Nga nên anh chị khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền 7.000.000.000 đồng và lãi suất theo quy định của pháp luật và tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời mà Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà đã áp dụng. Còn bị đơn anh Lợi, chị Nga do người đại diện theo ủy quyền là anh Hoàng Thế Nhiên thừa nhận bị đơn có nợ của nguyên đơn số tiền 7.000.000.000 đồng, khi nào bị đơn có tiền thì bị đơn sẽ thanh toán cho nguyên đơn số tiền 7.000.000.000 đồng nhưng không đồng ý trả lãi suất vì khi vay hai bên không thỏa thuận lãi suất.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn Thìn thì lại cho rằng do bị đơn anh Lợi, chị Nga không có khả năng thanh toán cho Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đức Trọng số tiền 1.900.000.000 đồng nên bị đơn đã đề nghị ông Thìn nhận chuyển nhượng một số diện tích đất của anh Lợi, chị Nga nên hai bên ký hợp đồng chuyển nhượng theo quy định của pháp luật với giá chuyển nhượng là 2.800.000.000 đồng, sau đó, trong quá trình hoàn tất thủ tục chuyển nhượng để sang tên cho ông Thìn thì Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nên ông không thực hiện được thủ tục sang tên, ông yêu cầu Tòa án hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đã áp dụng và tiếp tục duy trì hợp đồng chuyển nhượng giữa các bên để ông hoàn tất thủ tục và ông yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Chiến, chị Duyên, anh Kiên, bà Tâm, anh Trung, bà Phượng thì lại cho rằng các anh chị có quản lý, sử dụng một phần diện tích đất mà hiện nay bà Nga, ông Lợi đã chuyển nhượng cho ông Thìn, trong quá trình quản lý, sử dụng thì các anh chị có cho chị Nga mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sang tên cho chị Nga để chị Nga đi vay vốn Ngân hàng nhưng thực tế người quản lý, sử dụng đất vẫn là các anh chị.

Nay được biết chị Nga, anh Lợi đã chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất mà các anh chị đang quản lý, sử dụng cho ông Thìn thì các anh chị không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Thìn.

Vì vậy, hai bên phát sinh tranh chấp. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản; tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn Thìn, ông Phạm Văn Xã, thì thấy rằng:

Theo đơn yêu cầu khởi kiện độc lập của ông Trần Văn Thìn ngày 22/01/2018 thể hiện nội dung: Ông Thìn yêu cầu Tòa án thu hồi, hủy bỏ Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 10/2017/QĐ-BPKCTT ngày 14/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà; tiếp tục công nhận hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Thìn và anh Lợi, chị Nga đối với các thửa đất đã ghi trong quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nêu trên để ông Thìn hoàn tất các thủ tục sang nhượng theo quy định của pháp luật; trong bất cứ trường hợp nào thì ông Thìn cũng yêu cầu Tòa án thực hiện việc xem xét giải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Thìn và anh Lợi, chị Nga để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của ông Thìn trong việc chuyển nhượng (bút lục số 90).

Theo Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao Giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ, theo đó: “Khi giải quyết vụ án dân sự có yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu nhưng đương sự không yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu thì Tòa án phải giải thích cho các đương sự về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Việc giải thích phải được ghi vào biên bản và lưu vào hồ sơ vụ án. Trường hợp Tòa án đã giải thích nhưng tất cả đương sự vẫn không yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu thì Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu mà không phải giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu; trừ trường hợp đương sự không yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba”.

Như vậy, trong trường hợp có yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu nhưng tất cả các đương sự đều không yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu mặc dù đã được Tòa án giải thích về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu thì Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu mà không giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu, trừ trường hợp đương sự không yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba.

Tuy nhiên, theo đơn khởi kiện độc lập của ông Thìn được Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà nhận được vào ngày 22/01/2018 thì ông Thìn đề nghị Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại cho rằng ông Thìn chỉ nêu một cách chung chung, không nêu cụ thể yêu cầu như thế nào nên cho rằng không đủ căn cứ để giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu trong vụ án này nên tách ra giải quyết bằng một vụ án khác. Việc Tòa án cấp sơ thẩm không xác minh, thu thập chứng cứ để giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu trong khi đương sự đã yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu là không đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, không giải quyết triệt để vụ án.

Hơn nữa, theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 02/4/2018 của Tòa án cấp sơ thẩm thì trên các thửa đất mà ông Lợi, bà Nga chuyển nhượng cho ông Thìn theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 24/11/2017 và bị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hiện tại còn có nhiều đương sự khác trong vụ án đang trực tiếp quản lý, sử dụng và đầu tư canh tác trên đất nhưng khi giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm không thu thập chứng cứ đầy đủ để làm rõ việc quản lý, sử dụng đất của các đương sự đang quản lý, sử dụng dựa trên cơ sở nào, việc đầu tư tài sản trên đất cụ thể như thế nào trên các thửa đất bị phong tỏa và phải giải thích bằng văn bản cho các đương sự biết hậu quả của việc phong tỏa tài sản mà các đương sự đang sử dụng là để đảm bảo cho việc thi hành án sau này theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, để các đương sự có thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật đối với các tài sản đã bị phong tỏa là không đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự đang trực tiếp quản lý, sử dụng đất.

Do đó, phải giải quyết hậu quả của các giao dịch dân sự liên quan đến quyền sử dụng đất bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời giữa bị đơn với các chủ thể đang trực tiếp quản lý, sử dụng đất mới đảm bảo cho việc thi hành án sau này theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Và chỉ khi Tòa án cấp sơ thẩm đã giải thích cho các đương sự bằng văn bản mà các đương sự đều thống nhất không yêu cầu giải quyết quyền lợi của mình liên quan đến tài sản bị phong tỏa thì Tòa án mới nhận định để tách ra giải quyết bằng một vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.

Từ những phân tích nêu trên. Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được những thiếu sót của Tòa án cấp sơ thẩm. Do vậy, cần hủy bản án dân sự sơ thẩm, chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung là có căn cứ.

Về án phí: Do hủy bản án sơ thẩm nên bị đơn ông Thìn, ông Xã không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Án phí dân sự sơ thẩm sẽ được xem xét khi giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật.

Về chi phí tố tụng khác: Số tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản mà đương sự đã tạm nộp sẽ được xem xét khi giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

1. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2019/DS-ST ngày 24/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản; tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn anh Lê Duy Huy, chị Trần Thị Thanh Thương; bị đơn anh Tăng Ngọc Lợi, chị Phạm Thị Nga và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

2. Về án phí: Hoàn trả cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn Thìn số tiền 300.000 đồng đã tạm nộp theo biên lai thu số 0001274 ngày 21/6/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà. Án phí dân sự sơ thẩm sẽ được xem xét khi giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật.

3. Về chi phí tố tụng khác: Sẽ được xem xét khi giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Các Thẩm phán

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Duy Hoài

Lê Thị Vân

Bùi Hữu Nhân Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

- VKSND tỉnh Lâm Đồng;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Phòng KTNV&THA;

- TAND huyện Lâm Hà;

- Chi cục THADS huyện Lâm Hà;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Bùi Hữu Nhân

Các Thẩm phán

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Duy Hoài

Lê Thị Vân

Bùi Hữu Nhân

Cỡ chữ