vanban.org

Bản án 100/2018/HNGĐ-ST — Tranh chấp về cấp dưỡng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bác đơn khởi kiện xin thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung của anh Nguyễn Xuân T. Anh Nguyễn Xuân T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Nguyễn Xuân Hoa T, sinh ngày 01/01/2016 mỗi tháng 2.

Về án phí: Anh Nguyễn Xuân T phải nộp 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng. Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về cấp dưỡng — án hôn nhân và gia đình — "Yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng"
  • Tòa quyết gì? Bác đơn khởi kiện xin thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung của anh Nguyễn Xuân T. Anh Nguyễn Xuân T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Nguyễn Xuân Hoa T, sinh ngày 01/01/2016 mỗi tháng 2.
  • Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 06-8-2018
“V/v tranh chấp thay đổi mức cấp
dưỡng nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị My My

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hạnh

2. Bà Nguyễn Thị Thanh Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Văn Thị Nguyễn Hiền - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột: Không tham gia phiên tòa

Ngày 06/8/2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1.132/2017/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2017 về việc “Tranh chấp thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Xuân T – Sinh năm: 1976 (Có mặt)

Nơi cư trú: xã T, thị xã H, tỉnh Kiên Giang.

Bị đơn: Chị Dương Thị Mai T – Sinh năm: 1984 (Có mặt)

Nơi cư trú: đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, tại bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn Xuân T trình bày:

Tôi và cô Dương Thị Mai T chung sống với nhau và kết hôn năm 2015. Đến tháng 6/2016, tôi và cô T ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 369/2016/QĐST-HNGĐ ngày 27/6/2016. Theo thỏa thuận giữa hai bên cô T có quyền nuôi con là cháu Nguyễn Xuân Hoa T, sinh ngày: 01/01/2016 và tôi có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu với số tiền 2.000.000 đồng/01 tháng, bắt đầu cấp dưỡng từ ngày 10/7/2016. Sau khi ly hôn cho tới nay, hàng tháng tôi đều cấp dưỡng cho cháu theo quyết định của Tòa án. Đến tháng 11/2017, tôi được điều chuyển công tác về cụm N54- Cục trinh sát Biên phòng.

Nay tôi yêu cầu xin thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung cháu Nguyễn Xuân Hoa T với số tiền là 500.000 đồng/01 tháng. Vì hiện nay tiền lương hạn chế, tôi thường xuyên phải đi công tác xa. Ngoài ra tôi còn phải chu cấp nuôi dưỡng 02 con của vợ đầu đến tuổi trưởng thành, nay bản thân tôi không đủ khả năng để tiếp tục cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Xuân Hoa T với số tiền 2.000.000 đồng như trước nữa.

* Bị đơn chị Dương Thị Mai T trình bày:

Tôi và anh Nguyễn Xuân T trước đây là vợ chồng, chung sống với nhau từ năm 2015. Đến tháng 06/2016, vợ chồng tôi đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 369/2016/QĐST-HNGĐ ngày 27/6/2016. Vợ chồng tôi thỏa thuận, tôi nuôi con chung cháu Nguyễn Xuân Hoa T, sinh ngày: 01/01/2016, anh Nguyễn Xuân T cấp dưỡng cho con số tiền là 2.000.000 đồng/01 tháng. Từ khi ly hôn cho đến nay, anh T hàng tháng đều cấp dưỡng nuôi con chung.

Nay anh T yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi cấp dưỡng nuôi con chung cháu Nguyễn Xuân Hoa T với số tiền là 500.000 đồng/01 tháng thì tôi không đồng ý vì mức cấp dưỡng anh T đưa ra không đủ để chăm lo cho cháu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đơn khởi kiện của anh Nguyễn Xuân T yêu cầu Tòa án giải quyết xin được thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung. Đây là vụ án tranh chấp về mức cấp dưỡng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 5 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa anh T cho rằng hiện nay mức lương hàng tháng của anh là thu nhập thấp, kinh tế hiện tại eo hẹp. Vì sau khi ly hôn, tài sản của anh và cô T tạo dựng anh đều để lại cho con vì tài sản không đáng kể, thực tế lúc chung sống thu nhập của anh chỉ hưởng lương còn cô T làm ngoài mức thu nhập cao. Nay anh phải tạo dựng kinh tế lại từ đầu và đã quay về đăng ký kết hôn lại với vợ đầu, phải nuôi hai con chung với vợ đầu mà mức lương hiện tại được hưởng hơn 8.000.000đồng/01tháng nên không đủ chi tiêu cho bản thân, vì đặc thù công việc của anh là thường xuyên đi công tác do vậy mức cấp dưỡng 2.000.000đồng thì anh không thể cấp dưỡng được. Trước đây, do mong muốn được sớm ly hôn và cô T ép buộc phải cấp dưỡng nuôi cháu T là 2.000.000đồng/tháng nên anh mới đồng ý cấp dưỡng mức 2.000.000đồng/tháng nhưng nay xin được thay đổi cấp dưỡng nuôi con chung ở mức 500.000đồng/tháng.

Chị T cho rằng tại phiên tòa hôm nay anh T nói khi chị và anh T ly hôn anh không yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng mà để lại cho con là không đúng sự thật. Vì trước khi cưới anh T chị đã có tài sản riêng và khi cưới anh T mọi chi phí đám cưới chị đều lo kể cả việc lo vé máy máy bay cho bố anh T đi vào Đăk Lăk dự đám cưới. Trong thời gian chung sống anh T không tạo dựng được tài sản gì, anh T đi lại không có phương tiện đi lại nên chị đã mua cho anh T chiếc xe mô tô nhưng khi ly hôn chị đã lấy lại vì đây là tài sản riêng của chị.

Việc anh T cấp dưỡng mức 2.000.0000đồng/tháng là do anh T tự nguyện chứ chị không ép buộc. Hiện tại chị T đang thất nghiệp không có việc làm nên chị được mẹ chị cho phụ giúp làm hàng mã mỗi ngày được 100.000đồng, ngày nào đi làm thì mới có tiền còn không đi làm thì không có tiền. Hiện tại cháu T đã đi học nhà trẻ nên chi phí học hành, tiền sữa, tiền ốm đau với các khoản phải chi phí này thì việc anh T yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng là 500.000đồng/tháng để nuôi cháu T là không đủ để trang trải nên đề nghị Tòa án vẫn giữ nguyên ở mức cấp dưỡng 2.000.0000đồng/tháng

Hội đồng xét xử xét thấy Anh Nguyễn Xuân T và chị Dương Thị Mai T đã thuận tình ly hôn và theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 369/2016/QĐST-HNGĐ ngày 27/6/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột. Chị Dương Thị Mai T có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng con chung cháu Nguyễn Xuân Hoa T, sinh ngày 01/01/2016 đến tuổi trưởng thành. Anh Nguyễn Xuân T tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu T mỗi tháng 2.000.000 đồng. Bắt đầu cấp dưỡng từ ngày 10/7/2016 cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi. Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận từ khi ly hôn đến nay anh T hàng tháng đều cấp dưỡng nuôi con chung. Nay anh T yêu cầu thay đỗi mức cấp dưỡng 500.000đồng/ tháng với lý do, lương anh T được hưởng là thấp không đủ trang trải cho bản thân và gầy dựng kinh tế.

Qua công văn số 60/HCHCCQTT ngày 11/5/2018 của Phòng Hành chính hậu cần, cơ quan thường trực Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng về việc trích bản lương chính của quân nhân tại ngũ Nguyễn Xuân T thể hiện tổng thu nhập tháng 3/2018 anh T được hưởng là 8.920.000đồng với mức lương này thì anh T có đủ khả năng trang trải, lo toan cho cuộc sống cá nhân và gia đình. Bỡi lẽ, thực tế hiện tại hầu hết các cán bộ, công chức trên toàn quốc đều có mức lương được hưởng tương đương như anh T nhưng cuộc sống của họ vẫn bình ổn nên viện anh T việc cớ thu nhập thấp, kinh tế eo hẹp nên không có khả năng cấp dưỡng nuôi con 2.000.0000đồng/tháng mà chỉ cấp dưỡng được ở mức 500.000đồng/tháng để nuôi cháu T là không thể chấp nhận được. Để đảm bảo cho cháu T được phát triển về thể chất, tinh thần cũng như nhằm ổn định cho việc cháu T được đến trường học hành và đảm bảo cho việc chị T yên tâm nuôi nấng cháu thiên trưởng thành nên cần bác đơn yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung của anh Nguyễn Xuân T.

Về án phí: Do không chấp nhận đơn khởi kiện của anh Nguyễn Xuân T nên anh T phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 5 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự;

- Điều 82; Điều 83; Điều 107; Điều 110; Điều 116; Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình;

- Áp dụng khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bác đơn khởi kiện xin thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung của anh Nguyễn Xuân T. Anh Nguyễn Xuân T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Nguyễn Xuân Hoa T, sinh ngày 01/01/2016 mỗi tháng 2.000.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng được thực hiện theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 369/2016/QĐST-HNGĐ ngày 27/6/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.

Về án phí: Anh Nguyễn Xuân T phải nộp 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng.

Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ