vanban.org

Bản án 100/2017/HSST — Hình sự

TAND TX. Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 12/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Nguyễn Minh N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 194; điểm p, q khoản 1, khoản 2 điều 46 và điều 33 BLHS năm 1999. Điểm x khoản 1 điều 51 BLHS năm 2015. Xử phạt: Nguyễn Minh N 24 tháng tù. Hạn tù tính từ ngày 20/5/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN MINH N - MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Minh N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TĨNH GIA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH THANH HÓA
Bản án số: 100/2017/HSST
Ngày: 12/9/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TĨNH GIA, TỈNH THANH HÓA

- Với thành phần hội đồng xét xử gồm có:

+ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bắc

+ Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tân và ng Nguyễn Th Anh

-Thư ký TAND huyện Tĩnh Gia ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân.

- Đại diện VKSND huyện Tĩnh Gia tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Trung – Chức vụ : Kiểm sát viên.

Ngày 12/9/2017 tại hội trường Tòa án nhân dân huyện Tĩnh Gia xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 95/2017/HSST ngày 27 tháng 7 năm 2017.

* Đối với bị cáo: Nguyễn Minh N – Sinh ngày: 25/11/1983

Nơi ĐKHKTT: Tiểu khu H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Giáo viên; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Nguyễn Minh L (đ ch t); Con bà: Nguyễn Thị C – Sinh năm: 1944; Vợ: Phạm Thị H – Sinh năm: 1988; Có 03 con: Lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/5/2017 đ n đ n nay – Có mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY:

Bị cáo Nguyễn Minh N bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Tĩnh Gia truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 20/5/2017, Cao Minh T, trú tại tiểu khu S thị trấn huyện T và Vương Quốc L, trú tại th n Q, x Hải T, huyện T góp mỗi người 200.000 đồng với mục đích mua ma túy để sử dụng.

Sau khi có 400.000 đồng, T gọi điện thoại cho Nguyễn Minh N hỏi mua 01 gói ma túy và hẹn Nhân đem ma túy đ n quán bia ở Thủy Sản thuộc tiểu khu B, thị trấn huyện T bán cho T. Nguyễn Minh N đồng ý, rồi cầm gói ma túy đ n nơi hẹn bán cho T 400.000 đồng. Việc mua bán vừa diễn ra xong thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra C ng an huyện Tĩnh Gia phát hiện, bắt quả tang. Cơ quan điều tra thu giữ trong người T 01 túi ni l ng màu trắng có viền màu xanh bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng và 01 chi c điện thoại di động hiệu HTC gắn thẻ sim 0981706805. Cơ quan điều tra thu giữ trong người N 400.000 đồng, 01 chi c điện thoại di động hiệu Iphone gắn thẻ sim 0919339633, 01 cóng thủy tinh và 01 túi ni l ng màu trắng có viền màu xanh bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng, đây là ma túy N cất giấu nhằm mục đích để bán ki m lời .

Sau khi bắt giữ các đối tượng, Cơ quan điều tra C ng an huyện Tĩnh Gia ti n hành khám xét khẩn cấp nơi ở của N, thu giữ: 01 cóng thủy tinh là dụng cụ để sử dụng ma túy tổng hợp dạng đá; 02 chi c bật lửa ga đ qua sử dụng; 01 bình ga mi ni gắn bộ khò lửa; 10 ống thủy tinh dài khoảng 20cm; 01 túi ni l ng màu trắng, loại túi có mép dán ngăn kh ng cho kh ng khí vào phía trong túi.

Tại bản cáo trạng số 103/CT-VKS ngày 27/7/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tĩnh Gia đ truy tố Nguyễn Minh N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của BLHS. Căn cứ vào chứng cứ tài liệu thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào k t quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ chứng cứ. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX áp dụng: Khoản 1 điều 194; điểm p, q khoản 1, khoản 2 điều 46; Điểm b khoản 1 điều 41 và điều 33 BLHS năm 1999 và điểm x khoản 1 điều 51 BLHS năm 2015. Điểm a, c khoản 2 điều 76 và điều 99 BLTTHS. Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị xử phạt: Nguyễn Minh N từ 24 tháng đ n 30 tháng tù. Tịch thu sung c ng quỹ nhà nước 01 chi c điện thoại di động hiệu Iphone gắn thẻ sim 0919339633; 01 chi c điện thoại di động hiệu HTC gắn thẻ sim 0981706805; 400.000 đồng. Tịch thu tiêu hủy 1,746g Các hạt tinh thể màu trắng có Methamphetamine, 02 cóng thủy tinh ; 02 chi c bật lửa ga đ qua sử dụng; 01 bình ga mi ni gắn bộ khò lửa; 10 ống thủy tinh dài khoảng 20cm; 01 túi ni l ng màu trắng. Buộc bị cáo phải chịu tiền án phí HSST.

XÉT THẤY:

Tại phiên tòa bị cáo đ thừa nhận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 20/5/2017 tại quán bia ở Thủy Sản, Nguyễn Minh N bán cho Cao Minh T 01 gói ma túy với giá 400.000 đồng. Việc mua bán vừa diễn ra xong thì bị bắt quả tang. Thu giữ trong người T 01 túi ni l ng màu trắng có viền màu xanh bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng và 01 chi c điện thoại di động hiệu HTC gắn thẻ sim 0981706805. Cơ quan điều tra thu giữ trong người N 400.000 đồng, 01 chi c điện thoại di động hiệu Iphone gắn thẻ sim 0919339633, 01 cóng thủy tinh và 01 túi ni l ng màu trắng có viền màu xanh bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng.

Khám xét nơi ở của Nguyễn Minh N, thu giữ: 01 cóng thủy tinh là dụng cụ để sử dụng ma túy tổng hợp dạng đá; 02 chi c bật lửa ga đ qua sử dụng; 01 bình ga mi ni gắn bộ khò lửa; 10 ống thủy tinh dài khoảng 20cm; 01 túi ni l ng màu trắng.

Tại K t luận giám định số 1162/MT-PC54 ngày 22/5/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự C ng an tỉnh Thanh Hoá k t luận:

- Các hạt tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong kí hiệu M1 gửi giám định có tổng trọng lượng 0,177 gam, có Methamphetamine.

- Các hạt tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong kí hiệu M2 gửi giám định có tổng trọng lượng 2,143 gam, có Methamphetamine.

Tại K t luận giám định số 1795/MT - PC54 ngày 30/8/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự C ng an tỉnh Thanh Hoá k t luận:

- Các hạt tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong kí hiệu M1 gửi giám định có hàm lượng Methamphetamine là 58,76 %.

- Các hạt tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong kí hiệu M2 gửi giám định có hàm lượng Methamphetamine là 53,80 %.

Trọng lượng Methamphetamine trong hai phong bì niêm phong kí hiệu M1 và kí hiệu M2 là:

- Các hạt tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong kí hiệu M1: 0,177g X 58,76% = 0,104g

- Các hạt tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong kí hiệu M2: 2,143g X 53,80g = 1,256g

Tổng cộng Trọng lượng Methamphetamine trong hai phong bì niêm phong kí hiệu M1 và kí hiệu M2 là: 0,104g + 1,256 g = 1,360g

Vì vậy có đủ cơ sở k t luận Nguyễn Minh N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS.

Xét tính chất mức độ hành vi và hậu quả thấy rằng: Hiện nay trên địa bàn xã Thị trấn T nói riêng và địa bàn huyện T nói chung tình trạng mua bán, tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy đang diễn ra khá phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho x hội, làm ảnh hưởng đ n tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn x hội, vi phạm ch độ độc quyền quản lý chất gây nghiện của nhà nước, làm gia tăng tệ nạn nghiện ma túy và cũng làm phát sinh nhiều tệ nạn x hội khác. Hành vi của bị cáo đ làm cho nhân dân trên địa bàn hoang mang lo sợ. Vì vậy cần phải tuyên cho bị cáo một hình phạt thật nghiêm và cần thi t phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống x hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho x hội, đồng thời mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân: Tiền án, tiền sự: không. Sau khi bị bắt đ thành khẩn khai báo, bị cáo đ có đơn tố giác tội phạm, giúp cơ quan điều tra phá một vụ án ma túy; Bị cáo là người có thành tích xuất sắc trong c ng tác, cụ thể là năm 2010 đạt danh hiệu: Giáo viên tổng phụ trách Đội TNTP Hồ Chí Minh giỏi cấp huyện, mẹ bị cáo là người có c ng với cách mạng, được tặng thưởng huy chương kháng chi n hạng nhì. Do đó có đủ cơ sở để áp dụng điểm p, q khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS năm 1999 và điểm x khoản 1 điều 51 BLHS năm 2015 lượng giảm một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được tính khoan hồng của Pháp luật.

Đối với người đàn ng mà N khai đ bán ma túy cho N tại khu vực x H, huyện T: Quá trình điều tra kh ng xác định được tên, tuổi, địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra kh ng đủ căn cứ để xử lý. Khi nào điều tra làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với hành vi của Cao Minh T và Vương Quốc L là người mua, ma túy để sử dụng, nhưng chưa sử dụng thì bị bắt. Với trọng lượng 0,104g Methamphetamine, chưa đ n mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra đ xử phạt hành chính đối với T và L là đúng quy định của Pháp luật. Do đó hội đồng xét xử miễn xét.

Xét về phần hình phạt bổ sung: Kh ng áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Xét về vật chứng:

- Đối với số tiền 400.000đ đang bị thu giữ tại kho Chi cục THADS huyện Tĩnh Gia theo phi u thu số AA/2013/00548 ngày 02/8/2017 đây là số tiền bị cáo có được do thực hiện hành vi phạm tội mà có. Do đó cần phải áp dụng điểm b khoản 1 điều 41 BLHS và điểm c khoản 2 điều 76 BLTTHS để tịch thu sung vào c ng quỹ nhà nước.

- Đối 01 chi c điện thoại di động hiệu Iphone gắn thẻ sim 0919339633 và 01 chi c điện thoại di động hiệu HTC gắn thẻ sim 0981706805. Đang bị thu giữ tại kho Chi cục THADS huyện Tĩnh Gia theo phi u nhập kho số NK2017/85 ngày 02/8/2017. Đây là c ng cụ mà bị cáo Nhân và anh Tùng dùng vào việc giao dịch mua bán trái phép chất ma túy. Do đó cần phải áp dụng điểm b khoản 1 điều 41 BLHS và điểm c khoản 2 điều 76 BLTTHS để tịch thu sung vào c ng quỹ nhà nước.

- Đối với 02 cóng thủy tinh, 02 chi c bật lửa ga đ qua sử dụng; 01 bình ga mi ni gắn bộ khò lửa; 10 ống thủy tinh dài khoảng 20cm; 01 túi ni l ng màu trắng. Đang bị thu giữ tại kho Chi cục THADS huyện Tĩnh Gia theo phi u nhập kho số NK2017/85 ngày 02/8/2017. Toàn bộ những vật trên là bộ dụng cụ để phục vụ việc sử dụng trái phép chất ma túy, các vật này kh ng có giá trị sử dụng. Do đó cần phải áp dụng điểm a khoản 2 điều 76 BLTTHS để tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 1,746g Các hạt tinh thể màu trắng có Methamphetamine (sau giám định), đang bị thu giữ tại kho Chi cục THADS huyện Tĩnh Gia theo phi u nhập kho số NK2017/103 ngày 11/9/2017. Đây là vật nhà nước cấm lưu hành. Do đó cần phải áp dụng điểm a khoản 2 điều 76 BLTTHS để tịch thu tiêu hủy.

Xét về phần án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 99 BLTTHS; Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Nguyễn Minh N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 194; điểm p, q khoản 1, khoản 2 điều 46 và điều 33 BLHS năm 1999. Điểm x khoản 1 điều 51 BLHS năm 2015.

Xử phạt: Nguyễn Minh N 24 tháng tù. Hạn tù tính từ ngày 20/5/2017.

* Về vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 điều 41 BLHS và điểm a, c khoản 2 điều 76 BLTTHS.

Tịch thu tiêu hủy 1,746g Các hạt tinh thể màu trắng có Methamphetamine sau giám định) đang bị thu giữ tại kho Chi cục THADS huyện Tĩnh Gia theo phi u nhập kho số NK2017/103 ngày 11/9/2017.

Tịch thu tiêu hủy 02 cóng thủy tinh, 02 chi c bật lửa ga đ qua sử dụng; 01 bình ga mi ni gắn bộ khò lửa; 10 ống thủy tinh dài khoảng 20cm; 01 túi ni l ng màu trắng. Đang bị thu giữ tại kho Chi cục THADS huyện Tĩnh Gia theo phi u nhập kho số NK2017/85 ngày 02/8/2017.

Tịch thu sung vào c ng quỹ nhà nước 400.000đ đang bị thu giữ tại kho Chi cục THADS huyện Tĩnh Gia theo phi u thu số AA/2013/00548 ngày 02/8/2017.

Tịch thu sung vào c ng quỹ nhà nước 01 chi c điện thoại di động hiệu Iphone gắn thẻ sim 0919339633 và 01 chi c điện thoại di động hiệu HTC gắn thẻ sim 0981706805. Đang bị thu giữ tại kho Chi cục THADS huyện Tĩnh Gia theo phi u nhập kho số NK2017/85 ngày 02/8/2017.

* Về án phí: Áp dụng Điều 99 BLTTHS; Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án, buộc Nguyễn Minh N phải chịu 200.000đ án phí HSST.

Trường hợp bản án quy t định được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng ch thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.

Án xử c ng khai sơ thẩm, có mặt bị cáo. Tuyên bố thời gian kháng cáo bản án là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ