vanban.org

Bản án 10 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Đi…

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trình Thị T. 1/. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trình Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trình Thị T - Nguyễn văn Đ"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Đi…
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KẾ SÁCH
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

&&&
Bản án số: 10/2022/HNGĐ-ST2
Ngày: 25/3/2022.
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG

* Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thạch Viết Tâm.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1/. Ông Nguyễn Văn Sơn.

2/. Bà Tăng Thị Bạch Vân

* Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Trần Văn Luyến, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Kế Sách.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Đặng Xuân Mai, Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 37/2022/TLST-HNGĐ ngày 19/01/2022 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 7/3/2022, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Trình Thị T, sinh năm 1976.

Địa chỉ: ấp N, xã H, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

* Bị đơn: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1975.

Địa chỉ: ấp N, xã H, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 17/01/2022, nguyên đơn chị Trình Thị T trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn Đ quen biết nhau, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới vào năm 1997, đến năm 2005 anh chị đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 138, cấp ngày 28/11/2005. Sau thời gian dài chung sống hạnh phúc anh chị có hai người con chung là Nguyễn Tuấn L, sinh ngày 03/11/1997 và Nguyễn Văn Quang L1, sinh ngày 12/02/2005, hiện nay hai cháu đang sống chung với chị. Đến cuối năm 2000 hai bên bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, anh chị thường xuyên cãi nhau, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên hiện nay chị và anh Đ không còn sống chung với nhau. Nay chị yêu cầu ly hôn với anh Đ, yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung là cháu Nguyễn Văn Quang L1 đến Đ 18 tuổi, còn Nguyễn Tuấn L đã trưởng thành, phát triển đầy Đ về thể chất và tinh thần nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và nợ chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Nguyễn Văn Đ trình bày: Anh thống nhất với lời trình bày của chị T về hôn nhân, con chung. Đối với yêu cầu xin ly hôn của chị T thì do chị T quyết định, nếu ly hôn thì anh đồng ý giao cháu Quang L1 cho chị T nuôi, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng; anh không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Thẩm phán tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của pháp luật, việc xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự và quan hệ pháp luật đang tranh chấp là chính xác, tại phiên tòa Hội đồng xét xử đúng thành phần, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị T và anh Đ được ly hôn, giao con chung cho chị T nuôi, anh Đ không cấp dưỡng, về tài sản chung và nợ chung không đặt ra xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

Năm 1997, chị Trình Thị T và anh Nguyễn Văn Đ được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới, đến năm 2005 anh chị đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 28/11/2005. Vì vậy, hôn nhân của anh chị được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Chị T cho rằng sau một thời gian chung sống anh chị phát sinh mâu thuẫn do không cùng quan điểm, anh chị hay cãi nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, hiện nay anh chị không còn chung sống với nhau, chị yêu cầu được ly hôn với anh Đ. Tại phiên tòa, anh Đ xác định việc hôn nhân của anh chị do chị T quyết định, nếu chị T rút đơn khởi kiện thì anh chị chung sống lại với nhau, nếu chị T không chịu thì do Tòa án quyết định. Thấy rằng: Hôn nhân giữa chị T và anh Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, anh chị đã không còn chung sống với nhau, không có biện pháp hàn gắn tình cảm, không còn quan tâm, chăm sóc nhau, tại phiên tòa chị T cương quyết xin ly hôn với anh Đ. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T, cho chị và anh Đ được ly hôn để mỗi người tạo lập cuộc sống mới.

Về con chung: Chị T và anh Đ có hai người con chung là Nguyễn Tuấn L, sinh ngày 03/11/1997 và Nguyễn Văn Quang L1, sinh ngày 12/02/2005. Chị T yêu cầu được nuôi cháu Quang L1 đến tuổi trưởng thành, anh Đ đồng ý giao cháu Quang L1 cho chị T nuôi dưỡng, cháu Linh có nguyện vọng sống với mẹ. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, giao cháu Quang L1 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Đối với Nguyễn Tuấn L, sinh ngày 03/11/1997, đã trưởng thành và phát triển bình thường, các bên không yêu cầu giải quyết.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Đ không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho anh Đ, không ai được quyền ngăn cản.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị T và anh Đ không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Như đã nhận định nêu trên, đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trình Thị T.

1/. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trình Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ.

2/. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn Quang L1, sinh ngày 12/02/2005 cho chị Trình Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (Đ 18 tuổi).

Đối với con chung là Nguyễn Tuấn L, sinh ngày 03/11/1997, đã trưởng thành.

3/. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Văn Đ không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

4/. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho anh Nguyễn Văn Đ, không ai được quyền ngăn cản.

5/. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trình Thị T và anh Nguyễn Văn Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

6/. Về án phí: Chị Trình Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai số 0001595 ngày 17/01/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Chị T đã nộp Đ tiền án phí. Anh Nguyễn Văn Đ không phải chịu án phí sơ thẩm.

7/. Báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

8/. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ