vanban.org

Bản án 10 — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/12/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

N N N N

N

N

N M N

N

N

Đ c

– d – nh h c Bản án số: 10/2023/HNGĐ-PT Ngày 18-12-2023 V/v tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn NHÂN DANH NƯỚ

N

N

N M

N N N N N

N

N

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Vũ Đức Hùng.

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Thanh Thái;

Ông Lê Minh Tuấn;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Bùi Tuyết Hân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận: Bà Nguyễn Thị Linh - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Ngày 18 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 12/2023/TLPT-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.

Do Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 99/2023/HNGĐ-ST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Đức Linh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 16/2023/QĐ-PT ngày 14 tháng 11 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 04/2023/QĐ-PT ngày 30 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Lê Ngọc H, sinh năm 1986; có mặt

Địa chỉ: số nhà B đường số D, tổ D, thôn C, xã S, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thùy V, sinh năm 1993; vắng mặt

Địa chỉ: số nhà D đường số D, tổ A, thôn E, xã S, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

Người kháng cáo: Ông Lê Ngọc H, là nguyên đơn.

N

N Ụ N

Nguyên đơn trình bày:

Ông Lê Ngọc H và bà Nguyễn Thị Thùy V tự nguyện kết hôn, chung sống một thời gian thì không hạnh phúc nên tháng 6/2023 đã được Tòa án nhân dân huyện Đức Linh giải quyết cho ly hôn. Ông H và bà V có 01 con chung là Lê Vy O, sinh ngày 06/11/2021, được Tòa án nhân dân huyện Đức Linh xét xử giao cho chị V được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Ông H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng, từ lúc ly hôn đến nay bà V có cho ông H thăm nom con, nhưng không cho ông H dẫn con về nhà bố mẹ của ông Hữu c để cháu biết ông bà nội, nên ông H không cấp dưỡng. Ông H cảm thấy không thoải mái khi thăm con ở nhà bà V, vì bà V ở chung với mẹ ruột, ông H chỉ muốn dẫn con về nhà ông Hữu c nhưng bà V không đồng ý. Nay ông H yêu cầu thay đổi nuôi con, trường hợp bà V cho ông H dẫn con về nhà nội chơi thì ông H không yêu cầu thay đổi nuôi con, trường hợp bà V vẫn không đồng ý thì ông H yêu cầu Tòa án giao con lại cho ông H nuôi dưỡng, giáo dục, ông H không yêu cầu bà V cấp dưỡng nuôi con.

đơn trình bày: Bà Nguyễn Thị Thùy V thống nhất lời khai của ông H về việc kết hôn, ly hôn và con chung. Tuy nhiên, do ông H nóng nảy, cục tính, trước kia nhiều lần ông H đánh đập bà V và hay hù dọa sẽ giết con nếu bà V không cho ông H dẫn con đi chơi, với tính cách của ông H như vậy đã làm cho bà V cảm thấy không an tâm khi giao con cho ông H chăm sóc, trông nom. Ngoài ra, cháu O còn nhỏ, chưa đủ 02 tuổi, việc dẫn cháu đi sẽ dễ cảm, bệnh nên bà V không an tâm, bà V vẫn cho ông H thăm nom con bình thường theo quy định và còn cho ông H dẫn con ra quán mua bánh kẹo. Nay bà V không đồng ý giao cho cho ông H nuôi dưỡng, giáo dục vì cháu còn dưới 03 tuổi, cần người mẹ chăm sóc, giáo dục.

i ản án ôn nhân gia đình sơ thẩm số 99

N Đ- ngày tháng 9 n m

c a à án nhân dân huy n Đ c inh đã quyết đ nh:

Áp dụng: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 81, Điều 82, Điều 93, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Ngọc H về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Về quyền nuôi con: Các bên tiếp tục thực hiện theo Bản án số 54/2023/HNGD-ST ngày 06/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 29/9/2023, ông Lê Ngọc H có đơn kháng cáo không đồng ý Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Tại phiên tòa:

Ông Lê Ngọc H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giao con Lê Vy O sinh ngày 06/11/2021 cho ông Lê Ngọc H trực tiếp nuôi dưỡng.

+ Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Ngọc H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

N N ĐỊN

N:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

[2] Xét kháng cáo của ông Lê Ngọc H:

Căn cứ lời khai của ông Lê Ngọc H, bà Nguyễn Thị Thùy V và tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nhận thấy: Ông H và bà V là vợ chồng, đến ngày 06/6/2023 được Tòa án nhân dân huyện Đức Linh giải quyết cho ly hôn theo Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 54/2023/HNGĐ-ST, con chung Lê Vy O, sinh ngày 06/11/2021 được giao cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng. Xét cháu Lê Vy O đến nay chưa đủ 36 tháng tuổi, và đang được bà V chăm sóc, nuôi dưỡng ổn định. Ông Lê Ngọc H không đưa ra được chứng cứ chứng minh bà V không đủ điều kiện quan tâm, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu O.

Tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn: “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”.

Tại khoản 2 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

“a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.”

Do đó, Tòa án sơ thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Ngọc H về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con là có căn cứ. Đối với việc ông H cho rằng bà V không cho ông đưa cháu O về nhà cha mẹ của ông Hữu c, làm hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc con của ông H, nhận thấy cháu O được Tòa án xét xử giao cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng. Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 54/2023/HNGĐ-ST ngày 06/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh tuyên xử: “Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở”. Vì vậy, trường hợp ông H có căn cứ cho rằng bà V hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc con chung không đúng quy định pháp luật thì ông H có quyền liên hệ Cơ quan Thi hành án dân sự để yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình theo bản án đã xét xử.

Từ những nhận định trên, xét yêu cầu kháng cáo của ông Lê Ngọc H là không có cơ sở chấp nhận. Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận.

[3] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Lê Ngọc H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Vì các lẽ trên;

Q YẾ ĐỊN :

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự,

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Lê Ngọc H.

Giữ nguyên Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 99/2023/HNGĐ-ST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Đức Linh.

Áp dụng khoản 3 Điều 81, Điều 82, khoản 2 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Ngọc H về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Về quyền nuôi con: Các bên tiếp tục thực hiện theo Bản án số 54/2023/HNGD-ST ngày 06/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh.

2. Về án phí:

- Ông Lê Ngọc H phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) do ông H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh theo biên lai số 0017446 ngày 24/7/2023. Ông H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

- Ông Lê Ngọc H phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được trừ số tiền 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí ông H đã nộp theo biên lai số 0017599 ngày 10/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh. Ông H đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 18 tháng 12 năm 2023).

Cỡ chữ