- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "DSPT Trịnh Văn D - Lê Xuân M"
- Tòa quyết gì? Bác đơn khởi kiện của ông Trịnh Văn D về việc yêu cầu gia đình ông Lê Xuân M phải trả lại 161m2 đ t trồng cầy lâu năm tại thửa đ t s 46, tờ bản đồ s 62-II phường T, thành ph S, tỉnh Thái Nguyên.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật T tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật T tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án s : 10/2024/DSPT. Ngày: 18/01/2024 V/v Tranh ch p D đ t. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tòa phiên tòa: Bà Trần Thị Nhài
Các thẩm phán: Bà Lê Thị Hồng Phương
Ông Nguyễn Mạnh Toàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thủy Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên .
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hương Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 01 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý s 73/2023/D PT ngày 06/10/2023, về Tranh ch p quyền sử dụng đ t. Do bản án dân sự sơ thẩm s 16/2021/DSST ngày 08/12/2021 của Tòa án nhân dân thành ph ông, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo và uyết định giám đ c thẩm s 15/2023/DS-GĐT ngày 23/02/2023 của Tòa án nhân dân c p cao tại Hà Nội, hủy Bản án dân sự phúc thẩm s 40/2022/D PT ngày 25/5/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử s 109/2023/ Đ - PT ngày 04 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn:Ông Trịnh Văn D, sinh năm 1943. Địa chỉ tổ A, phường T, thành ph S, Thái Nguyên. (vắng mặt)
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đình , sinh năm 1959. Địa chỉ tổ B, phường P, Thành ph T. (Có mặt)
2. Bị đơn:
2.1. Ông Lê Xuân M, sinh năm 1941 (đã chết ngày 29/12/2023)
Trú tại: Tổ A, phường T, thành ph , Thái Nguyên.
2.2. Bà Trịnh Thị D1, sinh năm 1947 (Vắng mặt)
Trú tại: Tổ A, phường T, thành ph , Thái Nguyên.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Vương Thị T1, sinh năm 1945 (đã chết ngày 03/6/2022) vợ ông M
* Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông M và bà T1:
1.Ông Lê Văn H, sinh năm 1963. (Có mặt)
2. Bà Lê Thị H1, sinh năm 1972. (Vắng mặt)
3. Bà Lê Thị T2, sinh năm 1974. (Có mặt)
4. Ông Lê Văn T3, sinh năm 1976. (Vắng mặt)
5. Bà Lê Thị C, sinh năm 1978. (Vắng mặt)
6. Ông Lê Văn , sinh năm 1979. (Vắng mặt)
Đều trú tại tổ A, phường T, thành ph S, tỉnh Thái Nguyên.
7. Bà Lê Thị B, sinh năm 1966 (Vắng mặt)
Trú tại: Cầu G, phường B, thành ph T, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện theo ủy quyền của ông H, bà H1, bà T2, bà C, ông T3 và ông Q: Bà Nguyễn Thị Thanh N1, sinh năm 1978
Trú tại: Tổ A, phường P, thành ph T, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt).
3.2. Bà Nguyễn Thị D2, sinh năm 1943 (vợ ông D, vắng mặt)
3.3. Ông Lê Văn H, sinh năm 1963 (Có mặt)
3.4. Bà Lê Thị T2, sinh năm 1974 (Có mặt)
Đều trú tại tổ A, phường T, thành ph S, Thái Nguyên
3.5. UBND thành ph S, tỉnh Thái Nguyên. Người đại diện theo ủy quyền Bà Dương Thị H2, chức vụ phó trưởng phòng TN&MT thành ph ông Công, tỉnh Thái Nguyên (có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm nguyên đơn ông Trịnh Văn D và người ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 11/02/1991 ông Trịnh Văn D được Ủy ban nhân dân thị xã S (nay là thành ph ) Thái Nguyên c p gi y Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t tại thửa s 46, tờ bản đồ s 62-II, diện tích 1244m2 (đ t thổ cư).Trình tự thủ tục c p là do gia đình tự đi kê khai và làm thủ tục c p, không có cán bộ đo đạc và dẫn đạc trên thực địa. Năm 2014 gia đình ông xin c p phép xây dựng để làm nhà kiên c thì phát hiện gia đình ông M và gia đình bà D1 là hàng xóm liền kề có l n sang phần diện tích đ t thổ cư của gia đình ông. Gia đình ông đã trao đổi với ông M để giải quyết tranh ch p đ t nêu trên nhưng không th ng nh t được, do đó ông khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc gia đình ông M trả lại phần đ t l n chiếm có diện tích 161m2 cho gia đình ông.
Đ i với bà Trịnh Thị D1 ông D đã rút yêu cầu khởi kiện, Tòa án c p sơ thẩm đã đình chỉ giải quyết.
Bị đơn ông Lê Xuân M và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía ông M (đồng thời cũng là người đại diện theo ủy quyền của ông M) trình bày:
Gia đình nhà ông được giao đ t năm 1960, gia đình đến xây nhà tạm để ở, lúc đó gia đình ông D chưa đến ở. Năm 1972, gia đình ông D đến làm nhà ở và sinh s ng tại đó. Năm 1991 kê khai để c p gi y Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t do Ủy ban nhân dân thị xã S (nay là thành ph ) Thái Nguyên c p ngày 11/02/1991 tại thửa s 44, tờ bản đồ 62-II, diện tích 1.816m2 có địa chỉ tại phường T, thành ph S, Thái Nguyên, việc kê khai c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t gia đình ông cũng không trực tiếp kê khai, không chỉ giới và cũng không có người dẫn đạc; về ranh giới giáp ranh của thửa đ t, trước đây khi gia đình ông D chưa đến ở là hàng rào tre do gia đình ông (M) trồng. Khi gia đình ông D đến ở, nhà ông (M) và ông D thỏa thuận chặt cây tre đi để trồng hàng rào găng làm ranh giới giữa hai gia đình. Khoảng năm 1988 – 1989, gia đình ông D phá hàng rào găng, xây bờ tường gạch làm ranh giới. Nhà ông D tự xây hàng rào trên đ t của gia đình mình, không gọi gia đình ông ra chứng kiến và gia đình ông cũng nh t trí không có ý kiến gì. Hai gia đình đã ở ổn định, đến năm 2017 thì phát sinh tranh ch p. Gia đình ông xác định không l n chiếm, vì đã ở ổn định trên thửa đ t.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân thành phố S (do người đại diện) trình bày:
Việc c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cho các hộ gia đình ông Trịnh Văn D, Lê Xuân M và bà Trịnh Thị D1 đã thực hiện đúng hồ sơ kê khai, đúng thông tin bản đồ địa chính và được ghi vào sổ địa chính. Đ i với thửa s 46 tờ bản đồ 62-II đã được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t diện tích 1244m2 nhưng có sai s diện tích, diện tích tính lại theo ranh giới bản đồ địa chính s hóa là 1593,07m2, nếu gia đình ông D đề nghị c p lại theo ranh giới bản đồ địa chính (đang có tranh ch p) thì chưa được giải quyết cho đến khi việc sử dụng đ t ổn định, không có tranh ch p hoặc thực hiện kết quả giải quyết tranh ch p đ t đai theo quy định.
Đ i với phần diện tích đ t đang tranh ch p tại thửa s 46 tờ bản đồ 6-II của hộ ông Trịnh Văn D đ i chiếu với kết quả đo của Tòa án. Do thửa đ t đang có tranh ch p chưa được giải quyết, cho đến khi việc sử dụng đ t ổn định không có tranh ch p hoặc thực hiện kết quả giải quyết tranh ch p đ t đai. Theo quy định tại khoản 5 Điều 98 Luật đ t đai năm 2013 “…Trường hợp có sự chênh lệch diện tích giữa s liệu đo đạc thực tế với s liệu ghi trên gi y tờ quy định tại Điều 100 của Luật này hoặc Gi y chứng nhận đã c p mà ranh giới thửa đ t đang sử dụng không thay đổi so với ranh giới thửa đ t tại thời điểm có gi y tờ về quyền sử dụng đ t, không có tranh ch p với những người sử dụng đ t liền kề thì khi c p hoặc c p đổi Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đ t diện tích đ t được xác định theo s liệu đo đạc thực tế. Người sử dụng đ t không phải nộp tiền sử dụng đ t đ i với phần diện tích chênh lệch nhiều hơn nếu có...”. Do vậy, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Với nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm s 16/2021/DS-ST ngày 08/12/2021 của Toà án nhân dân thành ph Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã quyết định: Căn cứ khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, 157, 165, 227, 229, 271, 273 Bộ luật T tụng dân sự; Điều 164, 166, 175 Bộ luật Dân sự; Điều 166, 203 Luật đ t đai sửa đổi năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTV H14 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Ch p nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trịnh Văn D về việc yêu ông Lê Xuân M phải trả lại 161m2 đ t cây lâu năm, tại thửa đ t s 46 tờ bản đồ địa chính 62-II phường T, thành ph S, tỉnh Thái Nguyên.
2. Buộc gia đình ông Lê Xuân M phải trả lại cho ông Trịnh Văn D 161m2 đ t cây lâu năm, tại thửa đ t s 46 tờ bản đồ địa chính 62-II phường T, thành ph S, tỉnh Thái Nguyên. (có sơ họa thửa đ t kèm theo, các cạnh cụ thể theo các điểm 8,7,6,5,4,3,25,24,8).
Đ i với cây trên phần đ t tranh ch p gồm có 01 cây vải, 02 cây nhãn, 01 cây lát do gia đình ông M trồng, buộc ông M có trách nhiệm thu hoạch trả lại phần đ t cho gia đình ông Trịnh Văn D.
Phần tường xây tại phần đ t tranh ch p phía giáp đường dân sinh có chiều dài 7,74m (theo bản đồ trích đo hiện trạng thửa đ t tại các điểm 8, 24, 25) do ông M xây buộc gia đình ông M dỡ bỏ trả lại phần đ t cho gia đình ông Trịnh Văn D.
3. Các bên đương sự có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh biến động hoặc c p lại gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t theo bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh lại Gi y chứng nhận Quyền sử dụng đ t của ông Trịnh Văn D theo quy định của pháp luật.
4. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Trịnh Văn D đ i với bà Trịnh Thị D1, về việc yêu cầu bà D1 phải trả lại 40m2 đ t cây lâu năm, tại thửa đ t s 46 tờ bản đồ địa chính 62-II phường T, thành ph S, tỉnh Thái Nguyên.
Về chi phí t tụng: Ông Lê Xuân M phải chịu 7.000.000 đồng tiền chi phí thẩm định, định giá, s tiền này ông M có trách nhiệm trả lại cho ông D. Ông D được nhận s tiền 7.000.000 đồng do ông M hoàn trả.
Ghi nhận việc ông Trịnh Văn D chịu toàn bộ chi phí đo đạc đ i với Công ty TNHH H3.
Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, ông D có đơn yêu cầu thi hành án, ông M không tự nguyện thi hành án còn phải trả lãi đ i với s tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi su t phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi su t được quy định tại khoản 1, nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
4. Án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Lê Xuân M. Ông Trịnh Văn D được nhận lại 300.000đồng, tiền tạm ứng án phí đã nộp, theo biên lai thu s 0008084 ngày 23/11/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành ph ông Công, tỉnh Thái Nguyên.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và quyền thi hành án của đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 14/12/2021 ông Lê Xuân M có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại bản án dân sự phúc thẩm s 40/2022/D PT ngày 25/5/2022 Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã xét xử phúc thẩm đã quyết định: Không ch p nhận đơn kháng cáo của ông Lê Xuân M, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm s 16/2021/DS-ST ngày 08/12/2021 của Tòa án nhân dân thành ph ông Công.
Ngày 10/6/2022 ông Lê Xuân M có đơn đề nghị Tòa án nhân dân c p cao tại Hà Nội xem xét theo thủ tục giám đ c thẩm, đề nghị hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm và bản án dân sự phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
Ngày 29/11/2022 Chánh án Tòa án nhân c p cao tại Hà Nội ban hành uyết định s 62/2022/KN-DS kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm s 40/2022/DS-PT ngày 25/5/2022 Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân c p cao tại Hà Nội xét xử giám đ c thẩm, hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử phúc thẩm lại theo quy định của pháp luật.
Tại quyết định giám đ c thẩm s 15/2023/DS-GĐT ngày 23/02/2023 UBTP Tòa án nhân dân c p cao tại Hà Nội đã quyết định: Hủy bản án dân sự phúc thẩm s 40/2022/DSPT ngày 25/5/2022 Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên. Giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật, với nhận định: Chưa làm rõ 144m2 đ t bao tre ông D xin đăng ký để c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t ở vị trí nào mà c p sơ thẩm đã khẳng định 161m2 đ t tranh ch p được giao cho ông D tại thửa 46 phù hợp với đơn xin đăng ký quyền sử dụng đ t ngày 12/5/1989 có phần bao tre 144m2 là chưa đủ căn cứ vững chắc. Theo công văn s 3098/UBND-TNMT ngày 14/9/2021 của UBND thành ph S xác định: Về trình tự, thủ tục c p gi y chứng nhận D đ t ngày 11/02/1991 cho ông D thửa s 46 diện tích 1.244m2 là đúng hồ sơ đăng ký, đúng thông tin bản đồ địa chính và được ghi nhận vào sổ địa chính; thửa đ t s 46 đã được c p gi y chứng nhận diện tích 1244m2 nhưng có sai s về diện tích, diện tích tính lại theo ranh giới bản đồ địa chính s hóa là 1.593,07m2 và xác nhận: “Đối với diện tích 1.244m2 đã được cấp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gia đình ông Trịnh Văn D không xác định được nằm ở vị trí nào”. Tại Bản trích đo hiện trạng của Công ty TNHH H3 xác định phần đ t gia đình ông M l n sang nhà ông D có diện tích 161m2, kết quả đo đạc này chưa được kiểm tra nghiệm thu ch t lượng của cơ quan có thẩm quyền. Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án thì gia đình ông D và gia đình ông M đều đang sử dụng diện tích đ t lớn g p nhiều lần so với diện tích được c p trong gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t. Nguyên đơn xây rào trước. Cây trên đ t tranh ch p gồm vải, nhãn, lát do ông M trồng sử dụng ổn định từ 1960 đến khi ông D khởi kiện 2020 (50 năm mới tranh ch p). Do đó, cần hủy bản án dân sự phúc thẩm s 40/2022/D PT ngày 25/5/2022 Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên. Trong quá trình giải quyết lại vụ án, nếu không có chứng cứ mới để xác định diện tích đ t tranh ch p thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn thì Tòa án cần không ch p nhận yêu cầu khởi kiện.
Sau khi nhận lại hồ sơ, ngày 06/10/2023 Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên thụ lý lại vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông M giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị bác đơn khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu sự tuân theo pháp luật của Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật t tụng dân sự. Về đường l i giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 147, Điều 148 Bộ luật t tụng dân sự, ch p nhận kháng cáo của ông Lê Xuân M sửa bản án dân sự sơ thẩm s 16/2021/DS-ST ngày 09 tháng 12 năm 2021 của Toà án nhân dân thành ph ông Công, tỉnh Thái Nguyên, bác đơn khởi kiện của ông Trịnh Văn D.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và nghe lời trình bày của đương sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Hội đồng xét xử nhận xét:
[1.] Về thủ tục t tụng: Đơn kháng cáo của ông Lê Xuân M làm trong hạn luật định đã nộp dự phí kháng cáo là hợp lệ, được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Ông Lê Xuân M là bị đơn chết ngày 29/12/2023 và bà Vương Thị T1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã chết ngày 03/6/2022. Do vậy, những người con đẻ của ông M và bà T1 và con riêng của ông M được c p phúc thẩm đưa vào tham gia t tụng với tư cách người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông M, bà T1 gồm: các ông Lê Văn H, Lê Văn T3, các bà Lê Thị H1, Lê Thị T2, Lê Thị C, Lê Văn , Lê Thị B.
Tại phiên tòa vắng mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân thành ph , chị Lê Thị B (đã có đơn xin xét xử vắng mặt), bà Nguyễn Thị D2, bà Trịnh Thị D1 nhưng đã được t ng đạt hợp lệ lần thứ hai, căn cứ Điều 296 Bộ luật t tụng dân sự. Hội đồng tiếp tục xét xử .
. Xét kháng cáo của ông Lê Xuân M, Hội đồng th y:
. Phần diện tích đ t 161m2 đ t (cũ là đ t bờ tre) các bên đang tranh ch p có nguồn g c của UBND xã C. Năm 1989, gia đình ông D và gia đình ông M đều kê khai xin c p quyền sử dụng (ông D kê khai xin c p là 144m2 đ t bao tre, còn ông M kê khai xin c p là 100m2 đ t bờ tre). Năm 1991, phần đ t bờ tre được c p cho ông D, nằm trong thửa 46 tờ bản đồ s 62-II phường T có tổng diện tích 1244m2.
[2.2.] Theo nguyên đơn, năm 1988 ông và ông M th ng nh t phá bờ tre làm hàng rào bằng găng, năm 2004 ông xây tường bao quanh thửa đ t đã để lại 161m2 đ t bờ tre. Còn theo phía bị đơn, năm 1972 sau khi gia đình ông D đến ở, ông M và ông D thỏa thuận chặt tre để trồng hàng rào găng làm ranh giới thay thế bờ rào tre, năm 1988 gia đình ông D phá hàng rào găng, xây tường gạch (khi xây không gọi gia đình ông ra chứng kiến).
[2.3.] Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 04/12/2020 của Tòa án thành ph , hiện trạng sử dụng đ t của hộ ông Trịnh Văn D là 1.445,9m2, còn của hộ ông Lê Xuân M là 2.389,8m2. Như vậy, diện tích đ t thực tế của các hộ đều tăng hơn so với phần diện tích đ t được c p gi y chứng nhận. Phần diện tích đ t tranh ch p được thể hiện trong thửa đ t s 46 tờ bản đồ 62-II của ông D. Tuy nhiên, người thực tế sử dụng đ t tranh ch p là hộ gia đình ông M (đã trồng cây lâu niên trên đ t).
[2.4.] Tại quyết định giám đ c thẩm s 15/2023/DS-GĐT ngày 23/02/2023 UBTP Tòa án nhân dân c p cao tại Hà Nội đã nhận định: “…Trong quá trình giải quyết lại vụ án, nếu không có chứng cứ mới để xác định diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn thì Tòa án cần không chấp nhận yêu cầu khởi kiện”. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay ông D không cung c p được tài liệu, chứng cứ nào mới để xác định diện tích đ t tranh ch p thuộc quyền sử dụng của ông D.
[2.5.] Như vậy, có đủ căn cứ xác định: Phần diện tích đ t tranh ch p (bờ tre) đã được ông D kê khai xin c p quyền sử dụng năm 1989 và nằm trong thửa đ t s thửa s 46, tờ bản đồ 62-II, đã được c p quyền sử dụng đ t mang tên ông Trịnh Văn D năm 1991. Tuy nhiên, năm 2004 ông D đã tự xác định ranh giới đ t của mình với đ t liền kề là hộ ông M bằng tường xây. Việc ông D cho rằng do đ t bờ tre quá cứng khó khăn trong việc đào móng để xây tường bao nên đã để lại phần diện tích có bờ tre là không có căn cứ ch p nhận. Mặt khác, diện tích đ t đang tranh ch p theo bản đồ địa chính nằm trong thửa s 46, tờ bản đồ 62-II của ông D, nhưng trên thực tế gia đình ông D không quản lý, sử dụng phần diện tích đ t tranh ch p này, mà do gia đình ông M quản lý sử dụng và phía gia đình ông D không có ý kiến phản đ i, đến khi đo đạc lại thửa đ t s 46, tờ bản đồ 62-II để xây nhà năm 2014 th y phần diện tích đ t đang tranh ch p nằm trong thửa s 46, tờ bản đồ 62-II ông D cũng không có ý kiến gì, tuy nhiên đến năm 2020 thì ông D mới làm đơn khởi kiện.
[2.6.] Theo Điều 175 Bộ luật Dân sự. Ranh giới giữa các b t động sản quy định: “1. Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ranh giới cũng có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ 30 năm trở lên mà không có tranh chấp…”. Căn cứ vào lời khai của các bên đương sự th y rằng, gia đình ông D và ông M đã có tường xây để xác định ranh giới sử dụng đ t của mình, phần ranh giới này do ông D tự xác định và đã được các bên nh t trí, sử dụng ổn định (theo nguyên đơn từ năm 2004, còn theo bị đơn là từ năm 1988) đến khi phát sinh tranh ch p là trên 30 năm. Do vậy, việc Tòa án c p sơ thẩm ch p nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ.
[2.7.] Từ những phân tích trên có đủ căn cứ ch p nhận kháng cáo của ông M, căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật t tụng Dân sự sửa bản án dân sự sơ thẩm s 16/2021/DS- T ngày 08/12/2021 của Tòa án nhân dân thành ph ông Công, tỉnh Thái Nguyên.
. Về án phí và chi phí t tụng:
. Án phí phúc thẩm: Ông M không phải chịu án phí phúc thẩm. Ông M được nhận lại s tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phúc thẩm đã nộp, theo biên lai thu s 0001516 ngày 14/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành ph ông Công, tỉnh Thái Nguyên (ông M đã nhận lại).
. Án phí sơ thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm được xác định lại nguyên đơn phải chịu. Tuy nhiên ông D là người cao tuổi, căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ông D được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Ông D được nhận lại s tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án đã nộp, theo biên lai thu s 0008084 ngày 23/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành ph Sông Công, tỉnh Thái Nguyên (Ông D đã nhận lại)
. Về chi phí t tụng: Ông Trịnh Văn D phải chịu toàn bộ chi phí thẩm định, định giá. Khoản tiền này ông D đã chi phí và đã được Tòa án quyết toán xong.
. Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
. uan điểm về việc giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái nguyên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 147, Điều 148 của Bộ luật T tụng dân sự; các Điều 164, 166, 175 Bộ luật dân sự; các Điều 166, 203 Luật đ t đai sửa đổi năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Ch p nhận kháng cáo của ông Lê Xuân M sửa bản án dân sự sơ thẩm s 16/2021/DS-ST ngày 08/12/2021 của Tòa án nhân dân thành ph ông Công, tỉnh Thái Nguyên.
Tuyên xử:
1. Bác đơn khởi kiện của ông Trịnh Văn D về việc yêu cầu gia đình ông Lê Xuân M phải trả lại 161m2 đ t trồng cầy lâu năm tại thửa đ t s 46, tờ bản đồ s 62-II phường T, thành ph S, tỉnh Thái Nguyên.
Căn cứ vào bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, ông Trịnh Văn D có quyền đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh hoặc c p lại Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t theo quy định của pháp luật.
2. Về chi phí t tụng: Ông Trịnh Văn D phải chịu toàn bộ tiền chi phí thẩm định, định giá. Ông D đã nộp và đã thanh toán xong.
3. Án phí:
3.1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Trịnh Văn D. Ông D được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án đã nộp, theo biên lai thu s 0008084 ngày 23/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành ph ông Công, tỉnh Thái Nguyên (Chi cục Thi hành án dân sự thành ph ông Công đã trả cho ông D 300.000 đồng vào 18/7/2022, phiếu chi s PC-2022/198).
3.2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thảm cho ông Lê Xuân M. Hoàn trả cho ông M 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu s 0001516 ngày 14/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành ph ông Công, tỉnh Thái Nguyên (Chi cục Thi hành án dân sự thành ph Sông Công đã trả cho ông M 300.000 đồng vào 14/9/2022, phiếu chi s PC-2022/224).
4. Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành./.
| Nơi nhận: - VK ND tỉnh Thái Nguyên; - TAND TP Sông Công; - THADS TP Sông Công; - Các đương sự; - Lưu H ; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Nhài |