vanban.org

Bản án 10

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 10 Tuyên án 15/02/2023
Phúc thẩm Bản án 63/2023/HS-PT Tuyên án 25/04/2023

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Bị cáo Đoàn Minh L phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản ánsố: 10/2023/HS-ST
Ngày: 15/02/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH TIỀN GIANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Châu Bích Phượng

2. Ông Trần Công Trường

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Mai Chi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Duy Ngọc Thái - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 129/2022/HSST ngày 15 tháng 12 năm 2022. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2023/QĐXXST-HS ngày 17/01/2023 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Đoàn Minh L.

Giới tính: Nam.

- Tên gọi khác: Không.

- Sinh năm: 1987, tại tỉnh Tiền Giang.

- Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp K 2A, xã LĐ, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang;

- Quốc tịch: Việt Nam;

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

- Trình độ học vấn: 12/12.

- Nghề nghiệp: Làm vườn.

- Cha: Đoàn Văn C, sinh năm: 1941; Nghề nghiệp: già yếu;

- Mẹ: Ngô Thị Nào, sinh năm: 1942 (chết);

- Anh, chị ruột 05 người: lớn nhất sinh năm 1974, nhỏ nhất sinh năm 1983.

- Bị cáo chưa có vợ, con;

Cùng đăng ký thường trú tại: ấp K 2A, xã LĐ, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang

- Nhân thân: Năm 2007, tham gia nghĩa vụ quân sự tại Trung đoàn 109, đóng quân tại huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Năm 2013 xuất ngũ (cấp bậc thiếu úy quân nhân chuyên nghiệp) trở về địa phương.

- Tiền sự: Không.

- Tiền án: 02 lần. Ngày 01/8/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án, về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 39/2016/HSST. Ngày 03/8/2017 chấp hành xong thời gian thử thách. Bị cáo Lợi chưa đóng án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng nên chưa được xóa án tích; Ngày 07/7/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xử phạt 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 59/2021/HS-ST. Chấp hành xong ngày 23/5/2022.

- Bị cáo bị bắt, tạm giữ vào ngày 28/6/2022, chuyển tạm giam từ ngày 01/7/2022 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

* Bị hại: Đoàn Văn C, sinh năm 1941. Trú tại: Ấp K 2A, xã LĐ, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).

* Người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan:

1. Nghiêm Duy K, sinh năm 1978. Trú tại: D20 đường VVV, ấp 4, xã VL B, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

* Người làm chứng:

1. Hà Văn Đ, sinh năm 1973. Trú tại: 297/42/25 P.H.I, Phường 14, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

2. Nguyễn Văn H, sinh năm 1977. Trú tại: Khu phố L.M.C, xã LĐ, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).

3. Lê Văn N, sinh năm 1982. Trú tại: Khu phố L.M.C, xã LĐ, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).

4. Huỳnh Thị H, sinh năm 1975. Trú tại: Khu phố L.M.C, xã LĐ, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài nên Đoàn Minh L nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của cha ruột là ông Đoàn Văn C để bán lấy tiền. Vào ngày 25 và 27/6/2022 khi ông Chính không có nhà, Lợi sử dụng mạng Zalo liên lạc với Nghiêm Duy K đến nhà ông Chính. Lợi lấy trộm tài sản của ông Chính bán cho Kiều gồm: 02 bộ ván bằng gỗ (loại chân ngựa) với giá 18.000.000 đồng và 01 bàn dài bằng gỗ, 01 tủ gỗ loại gõ đỏ, 01 cái ghế chõng bằng gỗ, 08 cái ghế đai bằng gỗ với giá 15.000.000 đồng. Phụ giúp Kiều vận chuyển số tài sản trên có: Hà Văn Đ, Nguyễn Văn H, Lê Văn N, và Huỳnh Thị H. Sau đó, ông C phát hiện bị mất trộm tài sản nên trình báo Cơ quan Công an.

Thu giữ vật chứng, đồ vật liên quan vụ án:

- Một điện thoại di động hiệu OPPO A74 màu xanh, có ốp lưng bằng nhựa, có gắn 02 sim, số: “0339225105” và “0376234897” số Imei 1: 860821053887137, số Imei 2: 860821053887129.

- Số tiền Việt Nam là 1.401.000 đồng (Một triệu bốn trăm lẻ một nghìn).

Bản Kết luận định giá tài sản số 136/HĐĐG ngày 29/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Châu Thành xác định giá trị tài sản thiệt hại là:

- Một bàn gỗ dài, chân tiện, chiều cao 0,9 mét, mặt bàn có kích thước (0,9x1,8) mét, trị giá là: 20.000.000 đồng.

- Một tủ gỗ loại gỗ đỏ, chiều cao 2,2 mét, chiều ngang 1,5 mét, chiều rộng 0,6 mét, trị giá là: 10.000.000 đồng.

- Một ghế chõng có chiều cao 1,2 mét, rộng 0,5 mét, loại gỗ gõ đỏ trị giá là 1.000.000 đồng;

- Tám cái ghế đai có lưng tựa, chiều cao 0,9 mét, mặt ghế (0,4x0,4) mét, loại gỗ gõ mật, trị giá mỗi cái ghế là 300.000 đồng, tổng trị giá 08 cái ghế là 2.400.000 đồng.

- Hai bộ ván gỗ (loại chân ngựa) cao 0,5 mét, mặt ván có chiều rộng 1,7 mét, chiều dài 2,5 mét, gồm 03 tấm liền kề nhau có bề dày 07cm, trị giá mỗi bộ ván là: 20.000.000 đồng, tổng trị giá hai bộ ván là 40.000.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt: 73.400.000 (Bảy mươi ba triệu bốn trăm nghìn) đồng.

Tại bản cáo trạng số 08/CT-VKSCT ngày 15/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố bị cáo Đoàn Minh L về tội “Trộm cắp tài sản” theo qui định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa,

Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Đoàn Minh L về tội “Trộm cắp tài sản” theo qui định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự và phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, cùng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Đoàn Minh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng điểm c, g khoản 2 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điềm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Phạt bị cáo Đoàn Minh L từ 02 năm 06 tháng đến 3 năm tù.

- Trả lại cho bị cáo Đoàn Minh L: 02 sim, số: “0339225105” và “0376234897” số Imei 1: 860821053887137, số Imei 2: 860821053887129, Số tiền Việt Nam là 1.401.000 đồng (Một triệu bốn trăm lẻ một nghìn).

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: Một điện thoại di động hiệu OPPO A74 màu xanh, có ốp lưng bằng nhựa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo. Xét thấy:

Tại phiên tòa, bị cáo Đoàn Minh L đã khai hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Bị cáo cho rằng do cần tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo đã lợi dụng sơ hở của bị hại để trộm cắp tài sản. Cụ thể vào ngày 25 và 27/6/2022 khi ông Chính không có nhà, bị cáo đã lén lút lấy trộm tài sản gồm: 02 bộ ván bằng gỗ (loại chân ngựa) với giá 18.000.000 đồng và 01 bàn dài bằng gỗ, 01 tủ gỗ loại gỗ đỏ, 01 cái ghế chõng bằng gỗ, 08 cái ghế đai bằng gỗ để bán tiêu xài cá nhân.

Lời khai nhận tội trên của bị cáo cơ bản đã phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai của bị hại, người làm chứng và các lời khai trước đây của bị cáo tại cơ quan điều tra, cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã đủ cơ sở xác định bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo qui định tại điểm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy, bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ sức khoẻ và khả năng nhận thức về hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Thế nhưng, chỉ vì muốn hưởng lợi không bằng sức lao động chính đáng của mình mà bị cáo đã lợi dụng sơ hở của bị hại trong việc quản lý tài sản để chiếm đoạt tài sản.

Xét thấy, hành vi phạm tội trên đây của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, hành vi của bị cáo gây tư tưởng hoang mang trong nhân dân, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo là người có nhân thân xấu, liên tục có hành vi vi phạm pháp luật, vừa mới chấp hành xong bản án tù về hành vi trộm cắp tài sản nhưng vẫn không ăn năn hối cải mà thực hiện hành vi phạm tội mới, thực hiện nhiều lần trong nhiều ngày. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, cũng như phòng ngừa chung cho các đối tượng khác.

Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, bản thân bị cáo từng có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, bảo vệ đất nước. Vì vậy, Hội đồng xét thấy cần xem đây là các tình tiết để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Vật chứng thu giữ:

- Đối với điện thoại di động hiệu OPPO A74 màu xanh, có ốp lưng bằng nhựa. Đây là tài sản liên quan đến việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

- Đối với 02 sim, số: “0339225105” và “0376234897” số Imei 1: 860821053887137, số Imei 2: 860821053887129, Số tiền Việt Nam là 1.401.000 đồng (Một triệu bốn trăm lẻ một nghìn). Xét thấy, các tài sản trên là tài sản cá nhân của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về hình phạt:

- Tuyên bố bị cáo Đoàn Minh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng điểm c, g khoản 2 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xử: Phạt bị cáo Đoàn Minh L 02 (hai) năm 9 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/6/2022.

2. Về vật chứng:

- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự.

- Trả lại cho bị cáo Đoàn Minh L: 02 sim, số: “0339225105” và “0376234897” số Imei 1: 860821053887137, số Imei 2: 860821053887129, Số tiền Việt Nam là 1.401.000 đồng (Một triệu bốn trăm lẻ một nghìn).

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: Một điện thoại di động hiệu OPPO A74 màu xanh, có ốp lưng bằng nhựa.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/01/2022)

3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ