vanban.org

Bản án 10/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội phạm và hình phạt:

* Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Hoàng C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. * Về hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Hoàng C tàng trữ trái phép ma túy - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội phạm và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:10/2026/HS-ST
Ngày 12 tháng 3 năm 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hải.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Hằng, ông Nguyễn Đình Thanh.

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Xuân Quyết - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Đắk Lắk tham gia phiên toà: Ông Dương Minh Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2026, tại hội trường Tòa án nhân dân khu vực 7 - Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 07/2026/TLST - HS ngày 13/02/2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2026/QĐXXST-HS ngày 02/3/2026 đối với bị cáo:

Trương Hoàng C; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 20/10/1997, tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Thôn E, xã E, tỉnh Đắk Lắk; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Trương Thanh H và bà Hoàng Thị V; Bị cáo chưa đăng ký kết hôn nhưng sống chung như vợ chồng với chị Đinh Thị Huyền T, có 01 con sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 09/12/2025, đến ngày 17/12/2025 chuyển sang tạm giam. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại phân trại tạm giam E, tỉnh Đắk Lắk, có mặt tại phiên tòa.

*Những người tham gia tố tụng khác:

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trương Thanh H, sinh năm 1966, bà Hoàng Thị V sinh năm 1966. Cùng nơi cư trú: Thôn 5, xã E, tỉnh Đắk Lắk. Ông H và bà V có mặt tại phiên tòa.

+ Người làm chứng: Ông Trần Công S, sinh năm 1965. Nơi cư trú: Thôn 5, E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trương Hoàng C là đối tượng nghiện ma túy. Ngày 04/12/2025, C đi đến bờ hồ xã E để mua ma túy thì gặp một người phụ nữ trùm kín mặt (không rõ nhân thân lai lịch) dừng xe ở khu vực bờ hồ Ea kar. C hỏi người phụ nữ “Em nghiện ma túy, chị có biết ai bán ma túy đá không, kiếm cho em ít phụ nữ hỏi lại “Mua nhiều không”, C nói “Ba triệu rưỡi phụ nữ nói “Chờ một chút.”. Sau đó người phụ nữ điều khiển xe mô tô đi khoảng 05 phút sau thì quay lại, C lấy 3.500.000đồng đưa cho người phụ nữ và C nhận lại một gói nilon dạng túi zip bên trong chứa ma túy đá. C bỏ ma túy vào túi quần đang mặc trên người rồi bắt xe về lại nhà ông Trương Thanh H (là bố của C) ở thôn E, xã E cất giấu gói ma túy đá ở khoảng trống giữa giường với tường xây trong phòng ngủ của C để khi nào cần thì lấy ra để sử dụng.

Đến khoảng 16 giờ 20 phút ngày 08/12/2025, C lấy ma túy đá ra chuẩn bị sử dụng thì bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang. Tại cơ quan điều tra, C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Kết quả xét nghiệm tại Trung tâm Y tế Ea kar ngày 09/12/2025 xác định: Trương Hoàng Cường dương tính với ma túy (Methamphetamine và A).

Tại Kết luận giám định số: 1191 ngày 15/12/2025, của Phòng thuật hình sự Công an tỉnh Đ, kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nylon dạng túi Zíp được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, khối lượng 1,4778 gam. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng là 1,4469 gam và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu.

Vật chứng thu giữ, tạm giữ: 01 gói nilon dạng túi zip bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 chai nhựa có nắp màu vàng, nắp chai nhựa có gắn bằng thủy tinh và ống hút bằng nhựa hai màu đỏ trắng; 01 bật lửa.

* Tại bản cáo trạng số 22/CT-VKS ngày 12/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Đắk Lắk truy tố bị cáo Trương Hoàng C về tội “Tràng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

* Quá trình xét hỏi tại phiên toà: Bị cáo Trương Hoàng C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

* Quá trình điều tra, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trương Thanh H và bà Hoàng Thị V không có ý kiến và yêu cầu gì.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện sát nhân dân khu vực 7 – Đắk Lắk giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Tuyên bố bị cáo Trương Hoàng C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt: Áp dụng tại điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, xử phạt bị cáo Trương Hoàng C từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 09 tháng tù.

- Về vật chứng: đề nghị tịch thu, tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng là 1,4469 gam, loại: Methamphetamine và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu; 01 chai nhựa có nắp màu vàng, nắp chai nhựa có gắn bằng thủy tinh và ống hút bằng nhựa hai màu đỏ trắng; 01 bật lửa.

* Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Xét luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, nên HĐXX có đủ cơ sở pháp lý để kết luận:

Trương Hoàng C là người nghiện ma túy. Ngày 04/12/2025, C mua 01 gói ma túy với giá 3.500.000đồng loại Methamphetamine của một người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) tại bờ hồ E. Sau khi mua ma túy, C cất giấu ở phòng ngủ trong nhà của ông Trương Thanh H bà Hoàng Thị V thuộc thôn E, xã E, nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân. Đến khoảng 16 giờ 20 phút ngày 08/12/2025, C lấy ma túy ra để sử dụng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ phát hiện bắt quả tang; thu giữ 01 gói ma túy; qua giám định có tổng khối lượng: 1,4778gam, loại: Methamphetamine.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.

Khoản 1 Điều 249 Bộ luật sự, quy định:“1Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:

…

c) Methamphetamine … có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…”.

Tính chất, vai trò, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo là người có đầy đủ nhận thức và năng lực hành vi. Xét hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Mặc dù nhận thức được ma tuý không chỉ gây tác hại cho sức khỏe cho chính người sử dụng mà còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác, nhưng vì mục đích để thoả mãn cơn nghiện và ý thức coi thường pháp luật, bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật.

Xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sựcủa bị cáo, xét thấy:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. HĐXX cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, nhưng vẫn cần thiết buộc phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

Bị cáo là người sử dụng ma túy, nghề nghiệp không ổn định nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đối với vật chứng thu giữ của bị cáo: mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng là 1,4469 gam, loại: Methamphetamine và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu; 01 chai nhựa có nắp màu vàng, nắp chai nhựa có gắn bằng thủy tinh và ống hút bằng nhựa hai màu đỏ trắng; 01 bật lửa, đây là vật chứng phạm tội, hiện không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Các vấn đề khác:

Đối tượng bán ma túy cho Trương Hoàng C vào ngày 04/12/2025 tại xã E, tỉnh Đắk Lắk, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng chưa làm rõ được nhân thân, lai lịch nên chưa có căn cứ để xử lý. Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ nếu đủ căn cứ thì xử lý sau. Do đó, HĐXX không có căn cứ xử lý trong vụ án.

Ngoài hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nêu trên, từ ngày 04 đến ngày 08/12/2025, bị cáo còn có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, CQĐT chuyển hồ sơ cho Công an xã Ea Kar ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền là có cơ sở nên HĐXX không xem xét trong vụ án.

Đối với căn phòng trong nhà nơi bị cáo cất dấu và sử dụng ma tuý tại thôn E, xã E, tỉnh Đắk Lắk là tài sản sở hữu của ông Trương Thanh H và bà Hoàng Thị V (là cha, mẹ ruột của bị cáo). Việc bị cáo sử dụng phòng ngủ của căn nhà để cất giấu ma túy và sử dụng thì ông H và bà V không biết nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với ông H và bà V, do đó HĐXX không đề cập xử lý.

Về án phí: Bị cáo bị buộc tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội phạm và hình phạt:

* Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Hoàng C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Về hình phạt:

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Xử phạt bị cáo Trương Hoàng C 03 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 09/12/2025 sau đó chuyển tạm giam.

2. Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 106 BLTTHS, Điều 47 BLHS:

Tịch thu tiêu hủy: mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng là 1,4469 gam, loại Methamphetamine và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu; 01 chai nhựa có nắp màu vàng có gắn bằng thủy tinh và ống hút bằng nhựa hai màu đỏ trắng; 01 bật lửa. Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/02/2026 giữa Công an xã E và Phòng Thi hành án khu vực 7 – Đắk Lắk.

3. Về án phí:

Căn cứ Điều 136 BLTTHS, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban vụ Quốc hội: Bị cáo Trương Hoàng C phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Thông báo quyền kháng cáo: Bị cáo và đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án HSST trong thời hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ