vanban.org

Bản án 10/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai Tuyên án 29/01/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/9/2025. Án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị L phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 – GIA LAI
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2026/HS-ST
Ngày: 29-01-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đình Hưng

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ron và ông Phạm Ngọc Đông.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hạnh - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 1 – Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Văn Lê Hoài Khiêm - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 – Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 81/2025/TLST-HS ngày 31/12/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2026/QĐXXST-HS ngày 14/01/2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị L, giới tính: Nữ; Sinh ngày: 19/11/1984 tại: thành phố H; CCCD: 030184027510; Nơi thường trú: Đội 2, thôn A, xã K, thành phố H; Nơi ở hiện tại: Không có nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Gia T, sinh năm: 1960 và bà: Nguyễn Thị L, sinh năm: 1955; Chồng, con: chưa có; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 16/02/2023, bị Toà án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 16/2023/HS-ST, chấp hành xong hình phạt ngày 29/02/2024. Ngày 09/9/2024, bị Toà án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 181/2024/HS-ST, chấp hành xong hình phạt ngày 23/5/2025. Nhân thân: Ngày 05/10/2022, bị Công an thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, chưa chấp hành. Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 11/9/2025 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Dương Viết P, sinh năm 1970 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Nơi ở hiện tại: 49 Chương D, phường Q, tỉnh G.

- Người làm chứng: Ông Lê Thanh N và bà Phan Thị H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền để tiêu xài nên Nguyễn Thị L nảy sinh ý định tìm tài sản của người dân sơ hở thì lén lút chiếm đoạt. Khoảng 03 giờ 36 phút ngày 10/9/2025, Nguyễn Thị L đi ngang khách sạn “Sao Biển”, địa chỉ 49 Chương D, phường Q, tỉnh G phát hiện ông Dương Viết P (sinh năm: 1970, trú 49 Chương D, phường Q, tỉnh G) đang ngủ tại quầy lễ tân. Lúc này, L lén lút vào bên trong lục tìm tài sản. L thấy trong rổ nhựa màu xanh tại quầy lễ tân có 01 điện thoại di động hiệu Meizu Mblu21, màu đen - xám nên lấy cất vào trong túi áo khoác rồi rời đi. Đến khoảng 05 giờ cùng ngày thì L về lại nhà nghỉ Nam A, địa chỉ 173 Chương D, phường Q, tỉnh G (nơi Lãi thuê phòng) cất giấu điện thoại dưới gối của L. Sau khi mất điện thoại, ông Dương Viết P đến Công an phường Quy Nhơn Nam, tỉnh Gia Lai trình báo sự việc.

Đến khoảng 18 giờ ngày 10/9/2025, Công an phường Quy Nhơn Nam tiến hành kiểm tra tại nhà nghỉ Nam A thì phát hiện L cùng tang vật nên đưa về trụ sở để làm việc.

Theo Kết luận định giá tài sản số 181/KL-HĐĐGTTHS ngày 13/9/2025, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: điện thoại di động thông minh hiệu Meizu Mblu21, màu đen – xám, số Imei 866228071308092 tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là 1.500.000 đồng.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã tạm giữ và trả lại 01 điện thoại di động hiệu Meizu Mblu21 cho ông Dương Viết P.

Về dân sự: Bị hại Dương Viết P đã nhận lại tài sản của mình nên không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại Cáo trạng số 29/CT-VKSKV1 ngày 31/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Gia Lai truy tố bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Nguyễn Thị L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Do đó, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo Cáo trạng.

Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 18 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Dương Viết P đã nhận lại tài sản của mình và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo Nguyễn Thị L thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo Nguyễn Thị L xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Gia Lai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập hợp pháp, thẩm tra công khai tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Do cần tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo Nguyễn Thị L nảy sinh ý định tìm tài sản của người dân sơ hở để trộm cắp đem bán lấy tiền tiêu xài, nên vào khoảng 03 giờ 36 phút ngày 10/9/2025, bị cáo Nguyễn Thị L đột nhập vào khách sạn “Sao B”, địa chỉ 49 Chương D, phường Q, tỉnh G chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động hiệu Meizu Mblu21 màu đen – xám của ông Dương Viết P trị giá 1.500.000 đồng.

Bị cáo Nguyễn Thị L trước đó đã nhiều lần bị Tòa án xét xử và kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, trong đó tại Bản án số 16/2023/HS-ST ngày 16/02/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt bị cáo 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và Bản án số 181/2024/HS-ST ngày 09/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 – Gia Lai, tỉnh Gia Lai) đã xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến thời điểm thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại Dương Viết P với trị giá 1.500.000 đồng bị cáo chưa được xóa án tích. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Gia Lai truy tố bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định tội “đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, trị an ở địa phương nên phải xử phạt nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo Nguyễn Thị L thì thấy rằng:

4.1 Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Thị L có nhân thân xấu.

4.2 Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 02 tiền án về tội trộm cắp tài sản và chưa được xoá án tích, lần phạm tội này được áp dụng làm tình tiết định tội nên không áp dụng làm tình tiết tăng nặng đối với bị cáo.

4.3. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo an tâm cải tạo tốt.

Về bồi thường thiệt hại: Bị hại Dương Viết P đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bồi thường thêm nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị L bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, nên phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xét lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Gia Lai tại phiên toà, về mức hình phạt của bị cáo và các phần đề nghị khác phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/9/2025.

3. Án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị L phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Cỡ chữ