- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Phan Hữu H yêu cầu ly hôn với chị Hồ Thị B"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8-CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2026/HNGĐ-ST Ngày: 12-01-2026 V/v “Ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8-CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quang Minh Nghiêm.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tịnh, ông Nguyễn Văn Tâm.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Kha là thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8-Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thúy Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8-Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 559/2025/TLST-HNGĐ, ngày 18 tháng 11 năm 2025 về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 176/2025/QĐXX-ST, ngày 05 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Phan Hữu A, sinh năm 1991. Số CCCD: xxxxxxxxxxxx, ngày cấp 28/9/2021.
Địa chỉ: Thôn VX, xã Đồng Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
Bị đơn: Chị Hồ Thị B, sinh năm 1985. Số CCCD: xxxxxxxxxxxx, ngày cấp 12/12/2022.
Địa chỉ: Ấp 2, xã GH, tỉnh Cà Mau.
(Anh Hữu Anh vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; chị B vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 18/11/2025, trong quá trình tố tụng, anh Phan Hữu Anh trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị B chung sống vào năm 2020, hôn nhân tự nguyện, và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Gành Hào, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu (nay là xã Gành Hào, tỉnh Cà Mau) vào ngày 16/7/2024 theo quy định của pháp luật.
Thời gian đầu anh và chị B chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian gần đây giữa anh và chị B phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, cuộc sống không còn hạnh phúc, hiện nay anh và chị B đã sống ly thân. Trong thời gian sống ly thân thì anh và chị B không còn quan tâm lẫn nhau. Xét thấy mâu thuẫn giữa anh với chị B đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn mâu thuẫn. Anh không còn tình cảm, tiếp tục chung sống với chị B không còn hạnh phúc nên yêu cầu ly hôn với chị Hồ Thị B.
Về con: Anh và chị B có hai người con chung gồm Phan Đăng K, sinh ngày 21/3/2020 đang sống cùng anh và Phan Linh Đ, sinh ngày 15/7/2022 đang sống cùng chị B. Khi ly hôn anh đề nghị giữ nguyên tình trạng nuôi con như hiện nay và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Anh và chị B không có tài sản nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Hồ Thị B vắng mặt trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nên không có lời trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8-Cà Mau, tỉnh Cà Mau phát biểu:
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định Luật tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định. Bị đơn chưa chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án.
Ý kiến về giải quyết vụ án:
Về hôn nhân: Năm 2020, anh Phan Hữu A và chị Hồ Thị B tự nguyện yêu thương, chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh, chị là hợp pháp. Trong thời gian chung sống giữa anh Phan Hữu A và chị Hồ Thị B phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn và sống ly thân. Xét thấy, hôn nhân của anh Phan Hữu A và chị Hồ Thị B đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cho anh Phan Hữu A được ly hôn với chị Hồ Thị B là phù hợp.
Về con: Người con Phan Đăng K, sinh ngày 21/3/2020 đang sống cùng anh Phan Hữu Anh; người con Phan Linh Đ, sinh ngày 15/7/2022 đang sống cùng chị Hồ Thị B. Để ổn định cuộc sống của các con chưa thành niên, cần giao người con Phan Đăng K cho anh Phan Hữu A tiếp tục nuôi dưỡng, giao người con Phan Linh Đ cho chị Hồ Thị B tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Anh Phan Hữu A và chị Hồ Thị B có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được cản trở.
Anh Phan Hữu A không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét.
Về tài sản: Anh Phan Hữu A xác định không có tài sản nên không xem xét.
Về án phí hôn nhân anh Phan Hữu A nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8-Cà Mau về tuân theo pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Anh Phan Hữu A khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Hồ Thị B, chị B có địa chỉ tại ấp 2, xã GH, tỉnh Cà Mau. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8-Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Anh Phan Hữu A có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Chị B được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham dự phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Năm 2020, anh Phan Hữu A và chị Hồ Thị B tự nguyện yêu thương, chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Gành Hào, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu (nay là xã Gành Hào, tỉnh Cà Mau) nên hôn nhân của ông, bà là hợp pháp.
Trong thời gian chung sống giữa anh Phan Hữu A và chị Hồ Thị B phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng không cùng quan điểm, mỗi người có suy nghĩ, cách sống khác nhau, hiện nay anh Phan Hữu A xác định mâu thuẫn giữa anh với chị Hồ Thị B đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn nên yêu cầu ly hôn.
Hội đồng xét xử xét thấy: Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ. Tuy nhiên, qua thời gian chung sống giữa anh Phan Hữu A và chị Hồ Thị B không thực hiện được mà còn phát sinh nhiều mâu thuẫn. Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập chị B đến tham dự phiên hòa giải, phiên tòa nhưng chị vắng mặt không có lý do. Điều đó cho thấy hôn nhân của anh Phan Hữu A và chị Hồ Thị B đã lâm vào trình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu của anh Phan Hữu A được ly hôn với chị Hồ Thị B là phù hợp.
. Về con: Người con Phan Đăng K, sinh ngày 21/3/2020 đang sống cùng anh Phan Hữu Anh; người con Phan Linh Đ, sinh ngày 15/7/2022 đang sống cùng chị Hồ Thị B. Để ổn định cuộc sống của các con chưa thành niên, cần giao người con Phan Đăng K cho anh Phan Hữu A tiếp tục nuôi dưỡng, giao người con Phan Linh Đ cho chị Hồ Thị B tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Anh Phan Hữu A và chị Hồ Thị B có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được cản trở.
Anh Phan Hữu A không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.
. Về tài sản: Anh Phan Hữu A xác định không có tài sản nên không xem xét.
. Về án phí: Anh Phan Hữu A nộp 300.000 đồng, được đối trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Cho anh Phan Hữu A được ly hôn với chị Hồ Thị B.
2. Về con: Giao người con Phan Đăng K, sinh ngày 21/3/2020 cho anh Phan Hữu A tiếp tục nuôi dưỡng, giao người con Phan Linh Đ, sinh ngày 15/7/2022 cho chị Hồ Thị B tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Phan Hữu A và chị Hồ Thị B có quyền, nghĩa vụ thăm con chung không ai được cản trở.
Anh Phan Hữu A không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
3. Về tài sản: Anh Phan Hữu A xác định không có tài sản nên không xem xét.
4. Về án phí sơ thẩm hôn nhân anh Phan Hữu A nộp 300.000 đồng, anh Phan Hữu A đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004833 vào ngày 18/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 – Cà Mau được chuyển thu án phí.
Án xử công khai, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND khu vực 8 – Cà Mau; - Phòng THADS khu vực 8-Cà Mau; - UBND xã Gành Hào, tỉnh Cà Mau; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | Quang Minh Nghiêm |