- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đào Thị Rum E - Lê Văn A (Ly hôn)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2026/HNGĐ-ST Ngày 12-01-2026 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lâm Quang Toản.
2. Ông Ngô Văn Tân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tân - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ.
Ngày 12 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý thụ lý số: 93/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2025 về việc: "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 268/2026/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 11 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đào Thị Rum E, sinh năm 1982 (vắng mặt).
Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx.
Địa chỉ: Khu V, phường N, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Ông Lê Văn A, sinh năm 1983 (vắng mặt).
Định danh cá nhân số: 094083009274.
Địa chỉ: Khu V, phường N, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày và yêu cầu như sau:
Bà Đào Thị Rum E và ông Lê Văn A chung sống với nhau vào năm 2009 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện N, tỉnh Sóc Trăng (nay là phường N, thành phố Cần Thơ) vào ngày 25-5-2009. Quá trình chung sống lúc ban đầu vợ chồng rất hạnh phúc, thời gian sau phát sinh mâu thuẫn dẫn đến cải vả thường xuyên, vợ chồng không có tiếng nói chung. Do ông Lê Văn A không quan tâm lo chăm sóc gia đình, sống thiếu chung thủy với bà E. Nay nhận thấy mâu thuẫn của vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn mặc dù đã cố hàn gắn tình cảm vợ chồng để cùng lo nuôi con nhưng không mang lại kết quả. Tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt nên vợ chồng sống ly thân nhau từ năm 2023 cho đến nay. Vợ chồng có 02 con chung tên là Lê Thị Thanh N, sinh ngày 30-3-2009 và Lê Thiên Â, sinh ngày 29-4-2021, hiện đang sống chung với bà Đào Thị Rum E.
Những vấn đề cụ thể nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Lê Văn A.
- Về con chung: Yêu cầu giao cho bà Đào Thị Rum E trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Lê Thị Thanh N, sinh ngày 30-3-2009 và Lê Thiên Â, sinh ngày 29-4-2021 đến khi con chung đủ 18 tuổi; không yêu cầu ông Lê Văn A phải cấp dưỡng cho con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của bị đơn:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn, gồm Thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, bị đơn không có văn bản trình bày ý kiến đối với nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật cần giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn có địa chỉ cư trú tại phường N, thành phố Cần Thơ; giải quyết người trực tiếp nuôi dưỡng con chung; không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác. Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ thụ lý vụ án và xác định quan hệ pháp luật giải quyết về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc vắng mặt đương sự: Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Đào Thị Rum E vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn ông Lê Văn A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân, bà Đào Thị Rum E và ông Lê Văn A đã tự nguyện kết hôn và được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Do cuộc sống hôn nhân không hòa hợp, bà Đào Thị Rum E cho rằng vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, đã không còn tình cảm. Mặc dù chưa có bản án, quyết định cho ly hôn nhưng trên thực tế thì vợ chồng đã sống ly thân, thuộc một trong các trường hợp cho thấy hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 4 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16-5-2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Nay một bên khởi kiện yêu cầu ly hôn nên Hội đồng xét xử giải quyết cho vợ chồng được ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn: Bà Đào Thị Rum E và ông Lê Văn A có 02 con chung chưa thành niên là Lê Thị Thanh N, sinh ngày 30-3-2009 và Lê Thiên Â, sinh ngày 29-4-2021, đang sống chung với bà Đào Thị Rum E, tình cảm đang gắn bó với mẹ, điều kiện sống được đảm bảo. Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa sơ thẩm, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để thông báo cho ông Lê Văn A biết yêu cầu về việc giao con chung cho bà Đào Thị Rum E trực tiếp nuôi dưỡng. Tuy nhiên, ông Lê Văn A không có ý kiến phản đối hay đưa ra yêu cầu nào khác về việc nuôi dưỡng con chung. Cháu Lê Thị Thanh N (trên 07 tuổi) có văn bản trình bày nguyện vọng được sống chung với bà Đào Thị Rum E. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy việc tiếp tục giao cháu Lê Thị Thanh N và Lê Thiên  cho bà Đào Thị Rum E trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành là phù hợp và đúng theo quy định tại Điều 81và Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình. Ông Lê Văn A có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn, tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ cấp dưỡng của vợ, chồng khi ly hôn: Đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
Từ những phân tích trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 3 Điều 4 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16-5-2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đào Thị Rum E và ông Lê Văn A được ly hôn.
- Về con chung: Giao cháu Lê Thị Thanh N, sinh ngày 30-3-2009 và Lê
Thiên Â, sinh ngày 29-4-2021 cho bà Đào Thị Rum E trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Ông Lê Văn A có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ cấp dưỡng của vợ, chồng khi ly hôn: Không xem xét, giải quyết trong vụ án này
2. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Đào Thị Rum E phải chịu 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0006123 ngày 16-10-2025 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.
3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa mà không có người đại diện thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Cần Thơ; - THADS thành phố Cần Thơ; - VKSND khu vực 7 - Cần Thơ; - UBND phường Ngã Năm; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thanh Lâm |