vanban.org

Bản án 10/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Bùi Cẩm H ly hôn với ông Nguyễn Minh T.

2/ Về con chung: không có. 3/ Về tài sản chung, nợ chung: không có. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Bùi Cẩm H ly hôn với ông Nguyễn Minh T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

KHU VỰC 1 - CÀ MAU

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

TỈNH CÀ MAU Bản án số: 10/2026/HNGĐ-ST Ngày 16 – 01 – 2026 Về việc xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Oanh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Vũ Thị Mỹ Linh

Ông Huỳnh Hoàng Khởi

- Thư ký phiên tòa: Bà Tô Huyền Trang - là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1

- Cà Mau tỉnh Cà Mau.

Ngày 16 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 304/2025/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2025 về việc xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2352/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Bùi Cẩm H, sinh năm 1987 (có mặt) Địa chỉ cư trú: Ấp R, xã P, tỉnh Cà Mau. Địa chỉ chỗ ở hiện nay: khóm T, phường L, tỉnh Cà Mau. Căn cước công dân số: 096…

- Bị đơn: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1981

(vắng mặt) Địa chỉ cư trú: Số A, H, khóm C, Phường T, tỉnh Cà Mau. Căn cước công dân số: 096…

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trình bày của bà Bùi Cẩm H trong quá trình giải quyết vụ án, được bổ sung tại phiên tòa thể hiện:

Về hôn nhân, bà và ông Nguyễn Minh T chung sống với nhau vào năm 2008, đến năm 2021 mới đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân Phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau, nay là Ủy ban nhân dân Phường T, tỉnh Cà Mau, số Giấy chứng nhận kết hôn 23/2021, ngày 30/3/2021. Trong quá trình chung sống, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, do vợ chồng bất đồng quan điểm, không hợp nhau, thường hay cãi nhau, không tôn trọng lẫn nhau. Vợ chồng đã ly thân nhau khoảng một năm nay, mỗi người một nơi, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Do cuộc sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu ly hôn với ông T.

Về con chung: không có.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà xác định không có.

Đối với ông Nguyễn Minh T đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý về nội dung yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Cẩm H, nhưng đến nay ông T vẫn không gửi cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Bị đơn là ông Nguyễn Minh T đã được tống đạt hợp lệ để tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nội dung tranh chấp được xác định là xin ly hôn nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về yêu cầu xin ly hôn của bà Bùi Cẩm H, xét thấy, bà H và ông Nguyễn Minh T đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 30/3/2021 tại Ủy ban nhân dân Phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau, nay là Ủy ban nhân dân Phường T, tỉnh Cà Mau, số Giấy chứng nhận kết hôn 23/2021, nên hôn nhân được xác định là hợp pháp. Bà H cho rằng, vợ chồng đã có mâu thuẫn trầm trọng do không hợp nhau, không tôn trọng lẫn nhau, vợ chồng đã ly thân nhau khoảng một năm nay, mỗi người sống một nơi, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Còn ông T không đến Tòa án tham gia các phiên hòa giải, phiên tòa, cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến và các tài liệu, chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình nên Hội đồng xét xử chấp nhận trình bày của bà H, xác định hôn nhân của ông bà đã có mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng đã ly thân nhau, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho bà H ly hôn với ông T.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung, bà H xác định không có, còn ông T không gửi văn bản thể hiện ý kiến của mình và không gửi các tài liệu kèm theo chứng minh về các vấn đề này nên chấp nhận ý kiến của bà H.

Bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 147, 227, 228 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;

1/ Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Bùi Cẩm H ly hôn với ông Nguyễn Minh T.

2/ Về con chung: không có.

3/ Về tài sản chung, nợ chung: không có.

4/ Về án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình là 300.000đ, bà H phải nộp. Ngày 29 tháng 10 năm 2025, bà H đã nộp tiền tạm ứng án phí số tiền 300.000đ theo biên lai thu số 0003455 tại Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau, được đối trừ, bà H đã nộp đủ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bà H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ