- Tranh chấp gì? Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất — án dân sự — "Trần Thị V - Trần Đức T Tranh chấp chia di sản thừa kế"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu hởi iện của nguyên đơn bà Trần Thị V:
- Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật tố tụng d n sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2026/DSPT Ngày: 20/01/2026 “V/v tranh chấp chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành ph n H i đ ng xét x phúc th m g m có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Nhàn.
Các Thẩm phán: Bà Lê Hoài Thủy và ông Dương Viết Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tú Anh - Thư T a án nh n d n t nh Quảng Trị.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở T a án nh n d n t nh Quảng Trị xét xử phúc thẩm công hai vụ án thụ l số: 60/2025/TLPT-DS ngày 15 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất”. Do Bản án d n sự sơ thẩm số 10/2025/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2025 của T a án nh n d n hu vực 3 – Quảng Trị bị háng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 73/2025/QĐ-PT ngày 28 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị V, sinh năm 1972. Nơi cư trú: Thôn T, xã Q, thị xã B, t nh Quảng Bình (nay là thôn T, xã N, t nh Quảng Trị). Có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hiền, sinh năm 2001. Nơi cư trú: Xóm 2, xã Đông Sơn, huyện Đô Lương, t nh Nghệ An (nay là xã Lương Sơn, t nh Nghệ An). Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Trần Đức T1, sinh năm 1959. Nơi cư trú: Thôn T, xã Q, thị xã B, t nh Quảng Bình (nay là thôn T, xã N, t nh Quảng Trị). Có mặt.
3. Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Trần Đức T, sinh năm 1969; nơi cư trú: Thôn M, xã Q, thị xã B, t nh Quảng Bình (nay là Thôn M, xã N, t nh Quảng Trị). Có mặt.
3.2. Ông Trần Ngọc Th, sinh năm 1969; Nơi cư trú: Thôn T, xã Q, thị xã B t nh Quảng Bình. Chỗ ở hiện nay: Hẻm 239/T, phường Đ, quận A, thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường Đ, thành phố Hồ Chí Minh). Có mặt.
3.3. Ông Trần Ngọc T, sinh năm 1972; Nơi cư trú: Tiểu hu T, thị trấn Đ, huyện T, t nh Quảng Bình (nay là Tiểu hu T, xã Đ, t nh Quảng Trị). Có mặt.
3.4. Ông Trần Đức L, sinh năm 1974; Nơi cư trú: 828/87, đường X, phường Y, thành phố Vũng Tàu, t nh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường P, thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
3.5. Bà Trần Thị V1, sinh năm 1977; Nơi cư trú: G55/K300 đường C, phường Y, quận T, thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường B, thành phố Hồ Chí Minh). Có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Ngọc Th, ông Trần Đức L, bà Trần Thị V1: Ông Trần Ngọc T, sinh năm 1972; Nơi cư trú: Tiểu hu T, thị trấn Đ huyện T, t nh Quảng Bình (nay là Tiểu hu T, xã Đ, t nh Quảng Trị). Có mặt.
4. Người làm chứng:
4.1. Bà Mai Thị H, sinh năm 1963. Nơi cư trú: Thôn M, xã Q, thị xã B, t nh Quảng Bình (nay là thôn M, xã N, t nh Quảng Trị). Vắng mặt
4.2. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1972. Nơi cư trú: Thôn T, xã Q, thị xã B,
t nh Quảng Bình (nay là thôn T, xã N, t nh Quảng Trị). Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Bố mẹ Bà V là ông Trần Ngọc Ú (chết năm 2016) và bà Đinh Thị D(chết năm 2008) ết hôn với nhau và có 07 người con chung bao gồm: Trần Đức T1, Trần Đức T, Trần Ngọc Th, Trần Ngọc T, Trần Đức L, Trần Thị V và Trần Thị V1. Trong quá trình chung sống, bố mẹ Bà V đã tạo lập được hối tài sản chung là thửa đất số 119, tờ bản đồ số 3, diện tích 390m2 tại thôn T, xã Q, huyện Q, t nh Quảng Bình (nay là thôn T, xã N, t nh Quảng Trị) do Ủy ban nh n d n huyện Quảng Trạch cấp ngày 12/5/1994 mang tên ông Trần Ngọc Ú. Năm 2013, thửa đất trên được chia làm 02 thửa là thửa số 489, tờ bản đồ số 08, diện tích 726,5m2 mang tên ông Trần Ngọc Ú và thửa số 1597, tờ bản đồ số 08, diện tích 152,0m2 mang tên bà Trần Thị V. Tuy nhiên, do quá trình cấp đổi hông đúng thủ tục nên đã bị UBND thị xã Ba Đồn ra Quyết định số 1008/QĐ-UBND ngày 19/5/2020 để thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với hai thửa đất nêu trên. Bố mẹ Bà V chết hông để lại di chúc. Vì vậy, Bà V hởi iện yêu cầu T a án nh n d n thị xã Ba Đồn (nay là T a án nh n d n hu vực 3) giải quyết chia di sản thừa ế của bố mẹ để lại gồm: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 119, tờ bản đồ số 3, diện tích 390m2 tại thôn T, xã Q, huyện Q, t nh Quảng Bình (nay là thôn T, xã N, t nh Quảng Trị) do Ủy ban nh n d n huyện Quảng Trạch cấp ngày 12/5/1994 mang tên ông Trần Ngọc Ú; tài sản trên đất là một ngôi nhà hai tầng, hai i ốt (số 1 và số 2) và một mái che sát nhà hai tầng; Bà V có nguyện vọng xin được nhận 152m2 đất thuộc quyền sử dụng đất của bố mẹ để lại (phần đất này Bà V đã làm nhà cấp 4, quầy bán thuốc t y và hai i ốt số 3 và số 4). Nếu các hàng thừa ế hông nhất trí thì Bà V đề nghị T a án chia thừa ế theo quy định của pháp luật, đồng thời đề nghị T a án công nhận phần diện tích đất 152m2 thuộc quyền sử dụng đất của ông Trần Ngọc Ú hi c n sống đã tặng cho bà và bà đã sử dụng hợp pháp từ năm 2017 cho đến nay.
Theo phía bị đơn ông Trần Đức T1 và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Đức T, ông Trần Ngọc T đều trình bày:
Bố mẹ các ông là ông Trần Ngọc Ú (chết năm 2016) và bà Đinh Thị D(chết năm 2008) có 07 người con gồm: Trần Đức T1, Trần Đức T, Trần Ngọc Th, Trần Ngọc T, Trần Đức L, Trần Thị V và Trần Thị V1. Trong thời gian chung sống, bố mẹ các ông đã tạo lập được hối tài sản chung là thửa đất số 119, tờ bản đồ 3, có diện tích 390m2 (trong đó 200m2 đất ở, 190 m2 đất màu) tại thôn T, xã Q, huyện Q, t nh Quảng Bình (nay là thôn T, xã N, t nh Quảng Trị), được UBND huyện Quảng Trạch cấp ngày 12/5/1994 mang tên Trần Ngọc Ú. Năm 2013, thửa đất trên được chia làm 02 thửa là thửa đất 489, tờ bản đồ số 08, diện tích 726,5m2 mang tên ông Trần Ngọc Ú và thửa số 1597, tờ bản đồ số 08, diện tích 152,0m2 mang tên bà Trần Thị V. Tuy nhiên, do quá trình cấp đổi hông đúng thủ tục nên đã bị UBND thị xã Ba Đồn ra Quyết định số 1008/QĐ-UBND ngày 19/5/2020 để thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với hai thửa đất nêu trên. Bố mẹ các ông chết hông để lại di chúc. Nay bà Trần Thị V làm đơn hởi iện yêu cầu T a án ph n chia di sản thừa ế của bố mẹ để lại thì các ông hông đồng mà nguyện vọng của anh em là bảo tồn nguyên vẹn và chuyển cho vợ chồng ông Nguyễn Ngọc Thế thừa hưởng nhằm mục đích sinh sống và hương hói tổ tiên và cũng là nơi để anh em sum vầy. Ông T hứa sẽ tiếp nhận thừa ế và hương hói cho ông bà hông nhằm mục đích gì khác.
Ngày 06/12/2024, Hội đồng xem xét thẩm định theo yêu cầu của nguyên đơn, kết quả đo đạc, thẩm định và định giá:
- Về thửa đất 119, tờ bản đồ số 3, thôn T, xã Q, thị xã B, t nh Quảng Bình (nay là thôn T, xã N, t nh Quảng Trị) thuộc vị trí 1, hu vực 1 tại xã Q (nay là xã N), theo hiện trạng có tổng diện tích 873,7m2 (Tăng so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 483.7m2. Theo bảng giá các loại đất trên địa bàn t nh Quảng Bình giai đoạn 2020-2024 ngày 20/12/2019 có giá trị: Đất ở 84.000 đồng/m2, đất vườn là 35.000 đồng/m2. Theo giá thị trường chuyển nhượng tại thời điểm định giá thì đất ở có giá 2.100.000 đồng/m2, đất vườn có giá 35.000 đồng/m2. Tổng diện tích thửa đất theo giá thị trường có giá trị là 426.650.000 đồng;
Hiện tại trên thửa đất có các tài sản sau:
- 01 ngôi nhà hai tầng, diện tích 117,9m2 x y dựng năm 2011 có giá trị 1.413.621.000 đồng và 01 chái tạm có diện tích 21,8m2 có giá trị 3.204.000 đồng;
- 04 Ki ốt nằm ở phía T y của thửa đất có diện tích như sau: Ki ốt 01 có diện tích 24,2m2 có giá trị 17.666.000 đồng; i ốt 02 có diện tích 13,5m2 9.855.000 đồng; i ốt 03 có diện tích 24,4m2 có giá trị 17.812.000 đồng; i ốt 04 có diện tích 25,3m2 18.469.000 đồng;
- 01 quầy bán thuốc t y nằm ở phía Bắc thửa đất, có diện tích 27,6m2 có giá trị 20.148.000 đồng
-
01 nhà ở (nhà tạm) nằm ở phía Bắc của thửa đất có diện tích 59,7m2 hiện Bà V đang sử dụng có giá trị 80.774.100 đồng và 01 chái tạm lợp tồn có diện tích 12,2m2 có giá trị 1.793.400 đồng
Tổng giá trị đất và tài sản trên đất có giá trị là 2.009.992.500 đồng (Hai tỷ không trăm linh chín triệu, chín trăm chín hai nghìn, năm trăm đồng)
Bản án sơ th m s 10/2025/DSST ngày 27/8/2025 của TAND khu vực 4 tỉnh Quảng Trị quyết định:
Căn cứ vào hoản 5 Điều 26, điểm a hoản 1 Điều 35, điểm c hoản 1 Điều 39, Điều 147, hoản 2 Điều 157, Điều 158, Điều 271, hoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng D n sự; Điều 623 Bộ luật D n sự năm 2015; các Điều 633, 634, 635, 676, 685 Bộ luật D n sự năm 2005; hoản 4 Điều 26, điểm a hoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l , và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu hởi iện của nguyên đơn bà Trần Thị V, về chia di sản thừa ế của ông Trần Ngọc Ú và bà Đinh Thị Dđể lại gồm: thửa đất số 119, tờ bản đồ số 3, diện tích 390m2 (trong đó 200m2 đất ở và 190m2 đất vườn) tại thôn Trung Thượng, xã Quảng Sơn, thị xã Ba Đồn, t nh Quảng Bình (nay là thôn Trung Thượng, xã Nam Ba Đồn, t nh Quảng Trị) theo bản đồ địa chính năm 1993; một ngôi nhà hai tầng; 04 i ốt (Số 1, số 2, số 3 và số 4); 01 mái che giáp với ngôi nhà hai tầng;
- Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Đức T1, ông Trần Đức T, ông Trần Ngọc Th, ông Trần Đức L và bà Trần Thị V1 giao ỷ phần di sản thừa ế mà các ông, bà được hưởng cho ông Trần Ngọc T được quyền sở hữu và sử dụng.
- Giao cho ông Trần Ngọc T được quyền sở hữu và sử dụng gồm: Diện tích đất 290,5m2 (trong đó 140,3m2 đất ở và 150,2m2 đất vườn) tại thửa đất số 119, tờ bản đồ số 3, thôn T, xã Q, thị xã B, t nh Quảng Bình (nay là thôn T, xã N, t nh Quảng Trị) theo bản đồ địa chính năm 1993; tài sản gắn liền trên đất là 01 ngôi nhà hai tầng; 04 i ốt (số 01, số 02, số 03 và số 04) và một mái che sát nhà hai tầng có tổng trị giá 1.780.514.000 đồng;
- Giao cho bà Trần Thị V được quyền sở hữu và sử dụng gồm: Toàn bộ phần diện tích đất mà Bà V đã làm nhà, quầy bán thuốc t y và mái che là 99,5m2 (trong đó 59,7m2 đất ở và 39,8m2 đất vườn) tại thửa đất số 119, tờ bản đồ số 3, thôn T, xã Q, thị xã B, t nh Quảng Bình (nay là thôn T, xã N, t nh Quảng Trị) theo bản đồ địa chính năm 1993, 01 ngôi nhà cấp 4, 01 mái che của nhà cấp 4 và 01 quầy bán thuốc t y làm trên thửa đất nêu trên có tổng giá trị là 229.478.500 đồng
- Buộc ông Trần Ngọc T có trách nhiệm giao lại cho bà Trần Thị V số tiền 145.765.642 đồng
Tạm giao phần diện tích đất tăng thêm theo ết quả xem xét thẩm định tại chỗ là 483,7m2 nằm ở cạnh phía Đông và phía Nam của thửa đất số 119, tờ bản đồ số 3 cho ông Trần Ngọc T đại diện cho những người thuộc hàng thừa ế thứ 1 của ông Trần Ngọc Ú được quyền quản l
(Tứ cận, ích thước phần diện tích đất mà ông T, Bà V được giao theo sơ đồ kèm theo)
2. Không chấp nhận yêu cầu hởi iện của bà Trần Thị V, về việc công nhận phần diện tích đất 152m2 thuộc quyền sử dụng đất của bà Trần Thị V
3. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Trần Ngọc T phải nộp 6.171.000 đồng để trả lại cho bà Trần Thị V.
4. Về án phí: Ông Trần Ngọc T phải nộp 61.043.000 đồng án phí d n sự có giá ngạch, bà Trần Thị V phải nộp 18.757.000 đồng án phí d n sự có giá ngạch và 300.000 đồng án phí d n sự hông có giá ngạch để nộp vào ng n sách Nhà nước. Bà Trần Thị V được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp trước đ y tại Chi cục Thi hành án d n sự thị xã Ba Đồn theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí T a án số 0003419 ngày 02/10/2024
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo của đương sự theo
quy định.
Từ ngày 24 đến 26/9/2025, có kháng cáo của các đương sự: ông Nguyễn Ngọc Thế háng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chia đều di sản của ông Trần Ngọc Ú để lại cho 7 người con, hông chấp nhận yêu cầu của Bà V đ i 90m2 đất và hơn 200.000.000 đồng; xem xét lại phần án phí, bảo đảm công bằng giữa các đồng thừa ế, hông buộc gia đình ông phải chịu 6 phần án phí. Ông Trần Đức T1 háng cáo đề nghị xem xét lại nguồn gốc tài sản, quyền thừa ế, án phí, định giá tài sản. Bà Trần Thị V háng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ đơn hởi iện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc th m:
Phiên t a phúc thẩm lần thứ nhất ngày 25/12/2025, ông Trần Ngọc T đề nghị tiến hành định giá lại nên HĐXX đã tạm ngưng để thực hiện theo tố tụng, nhưng sau hi tạm ngưng thì ông T lại thay đổi iến bằng văn bản hông đề nghị định giá lại mà lấy ết quả định giá ở cấp sơ thẩm để giải quyết.
Các bên đương sự vẫn giữ nguyên iến, hông thỏa thuận được.
- Đại diện Viện Kiểm sát nh n d n t nh Quảng Trị phát biểu iến: Về thủ tục tố tụng: Những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng d n sự; Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm theo hướng công nhận phần diện tích 152m2 mà ông Trần Ngọc Ú đã có Hợp đồng tặng cho Bà V có hiệu lực, Bà V được toàn quyền sử dụng diện tích trên có nhà và quầy thuốc t y là tài sản của bà. Diện tích c n lại các đồng thừa ế giao lại cho ông T1 nên cần ghi nhận nội dung này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau hi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên t a và căn cứ ết quả tranh tụng tại phiên t a, iến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định, các đương sự có đơn háng cáo đối với bản án sơ thẩm hợp lệ nên Tòa án nhân dân t nh Quảng Trị thụ l để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
. Về nội dung: Xét háng cáo của các bên đương sự
Về thời hiệu hởi iện: Cụ bà Đinh Thị Dchết năm 2008, cụ ông Trần Ngọc Ú chết năm 2016, hai cụ có 07 người con chung, đến ngày 24/9/2024 bà Trần Thị V là một trong 7 người con chung của 2 cụ làm đơn hởi iện yêu cầu chia di sản thừa ế của hai cụ để lại. Căn cứ vào Điều 623 Bộ luật D n sự năm 2015 thì thời hiệu hởi iện của nguyên đơn đối với di sản thừa ế của cụ Ú, cụ Dvẫn c n.
Về thời điểm mở thừa ế, xác định người thừa ế:
Cụ ông Trần Ngọc Ú và cụ bà Đinh Thị D ết hôn và sinh được 07 người con chung bao gồm: Trần Đức T1, Trần Đức T, Trần Ngọc Th, Trần Ngọc T, Trần Đức L, Trần Thị V và Trần Thị V1. Ngày 25/3/2008 cụ D chết là thời điểm mở thừa ế lần thứ nhất – người thừa ế gồm cụ Ú và 7 người con nên di sản của cụ Dđược chia thành 8 ỷ phần; ngày 19/4/2016 cụ Ú chết là thời điểm mở thừa ế lần 2 – di sản của cụ Ú được chia 7 ỷ phần.
Do cụ Ú, cụ D chết hông để lại di chúc nên tính đến thời điểm mở thừa ế lần 2 là 19/4/2016 toàn bộ di sản của hai cụ Ú và cụ D được chia thừa ế theo pháp luật, tại thời điểm mở thừa ế, hàng thừa ế thứ nhất của hai cụ được xác định theo Điều 676 Bộ luật D n sự năm 2005 gồm: Trần Đức T1, Trần Đức T, Trần Ngọc Th, Trần Ngọc T, Trần Đức L, Trần Thị V và Trần Thị V1.
Xác định di sản thừa ế:
Theo lời hai của bà Trần Thị V thì di sản thừa ế của cụ Ú, cụ Dđể lại gồm: Thửa đất số 119, tờ bản đồ số 3, diện tích 390m2 (trong đó 200m2 đất ở và 190m2 đất vườn) tại thôn Trung Thượng, xã Quảng Sơn, thị xã Ba Đồn, t nh Quảng Bình (nay là thôn Trung Thượng, xã Nam Ba Đồn, t nh Quảng Trị); một ngôi nhà hai tầng, hai i ốt (số 01 và số 02) và một mái che của nhà hai tầng; riêng đối với ngôi nhà cấp 4, mái che nhà cấp 4, quầy bán thuốc t y và hai i ốt (số 03 và số 04) làm trên thửa đất số 119, tờ bản đồ số 3 của cụ Ú, cụ Dđể lại là của Bà V làm để cho thuê. Còn ông Trần Đức T1, ông Trần Đức T, ông Trần Ngọc T lại cho rằng ngôi nhà hai tầng là của ông T x y; ngôi nhà cấp 4, mái che nhà cấp 4, một quầy bán thuốc t y và 04 i ốt là do cụ Trần Ngọc Ú x y hi c n sống, Bà V về ở trên ngôi nhà cấp 4 nhưng có sửa chữa lại một phần. Xét thấy:
Đối với diện tích đất: Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì năm 1994 cụ Ú, cụ Dđược cấp diện tích đất là 390m2 (trong đó 200m2 đất ở và 190m2 đất vườn). Trong quá trình sử dụng đất, cụ Ú, cụ Dđã cơi nới, cải tạo nên diện tích đất đã tăng lên. Năm 2013, cụ Ú làm thủ tục đăng biến động đất và tách thửa đất trên thành 02 thửa gồm thửa số 489, tờ bản đồ số 08, diện tích 726,50m2 mang tên cụ Trần Ngọc Ú và thửa số 1597, tờ bản đồ số 08, diện tích 152,0m2 mang tên bà Trần Thị V nên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D0664458 cấp ngày 12/51994 mang tên cụ Trần Ngọc Ú đã bị thu hồi. Tuy nhiên, do quá trình cấp đổi hông đúng thủ tục nên đã bị UBND thị xã Ba Đồn đã ra Quyết định số 1008/QĐ-UBND ngày 19/5/2020 để thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với hai thửa đất nêu trên. Như vậy, mặc dù Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D0664458 cấp ngày 12/51994 mang tên cụ Trần Ngọc Ú đã bị thu hồi nhưng trên thực tế thửa đất số 119, tờ bản đồ số 3, diện tích 390m2 (trong đó 200m2 đất ở và 190m2 đất vườn) tại thôn T, xã Q, thị xã B, t nh Quảng Bình (nay là thôn T, xã N, t nh Quảng Trị) vẫn c n tồn tại, ngoài ra trên thửa đất c n có các tài sản gắn liền trên đất như biên bản xem xét thẩm định tại chỗ đã thể hiện, hiện các con cụ Ú, cụ D đang quản l , sử dụng.
Theo biên bản xác minh ngày 17/02/2025, UBND xã Q (nay là xã N) xác nhận: Việc cụ Trần Ngọc Ú sử dụng đất từ trước đến nay là hoàn toàn hợp pháp, hông vi phạm quy hoạch và hiện nay hông có tranh chấp. Vì vậy, cần xác định thửa đất số 119 tờ bản đồ số 3, diện tích 390m2 (trong đó 200m2 đất ở và 190m2 đất vườn) tại thôn T, xã Q, thị xã B, t nh Quảng Bình (nay là thôn T, xã N, t nh Quảng Trị) là di sản thừa ế của cụ Ú, cụ D để lại. Tuy nhiên, theo ết quả xem xét thẩm định tại chỗ thì hiện trạng thửa đất có diện tích là 873,7m2 (tăng so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 483.7m2). Việc diện tích thửa đất số 119 tăng là do trong quá trình sử dụng đất, cụ Ú, cụ D đã cơi nới thêm, chứ chưa được cơ quan có thẩm quyền nào công nhận quyền sử dụng đất cho cụ Ú, cụ D nên hông thể đưa diện tích đất tăng thêm vào để chia thừa ế mà ch chia thừa ế diện tích đất là 390m2 (trong đó 200m2 đất ở và 190m2 đất vườn) đúng như bản đồ địa chính năm 1993. Mặt hác, tại đơn hởi iện cũng như quá trình giải quyết vụ án, Bà V cũng như các hàng thừa ế ch yêu cầu chia thừa ế diện tích đất 390m2 (trong đó 200m2 đất ở và 190m2 đất vườn) tại Thôn T, xã Q, thị xã B, t nh Quảng Bình (nay là thôn T, xã N, t nh Quảng Trị).
- Đối với tài sản trên đất: Ông T1, ông Th và ông T đều cho rằng ngôi nhà hai tầng là do ông T x y từ nguồn tiền đóng góp của bố mẹ và các anh chị em nhưng chủ yếu là tiền của ông T, c n ngôi nhà cấp 4 (nhà tạm), quầy bán thuốc t y, 04 i ốt và mái che là của cụ Ú, cụ D để lại. Tuy nhiên, thời điểm làm nhà cụ Ú đang c n sống, nguồn tiền làm nhà cũng có một phần của cụ Ú (theo lời hai của ông T, ông Th và ông T1). Ông T, ông Th và ông T1 đều thừa nhận mục đích x y nhà cho cụ Ú sinh sống, ngoài ra hông cung cấp thêm được tài liệu chứng cứ gì chứng minh nhà là của ông T. Mặt hác, theo Biên bản lấy lời hai ngày 04/3/2005 bà Mai Thị H và bà Nguyễn Thị T trình bày, ngôi nhà hai tầng và 04 i ốt là của ông Úy, c n ngôi nhà cấp 4 (nhà tạm), quầy bán thuốc t y và mái che của nhà cấp 4 là do Bà V xây dựng. Những người làm chứng này hông có quan hệ họ hàng gì với những người thuộc hàng thừa ế thứ nhất của ông U , bà D nên lời hai của họ là hoàn toàn hách quan cần được chấp nhận.
Như vậy, xác định di sản của cụ Ú, cụ Dđể lại gồm thửa đất số 119, tờ bản đồ số 3, diện tích 390m2 (trong đó 200m2 đất ở và 190m2 đất vườn) tại thôn T, xã Q, thị xã B, t nh Quảng Bình (nay là thôn T, xã N, t nh Quảng Trị), được UBND huyện Quảng Trạch cấp mang tên cụ Trần Ngọc Ú vào ngày 12/5/1994; 01 ngôi nhà hai tầng, 04 ki ốt và một mái che sát nhà hai tầng; c n ngôi nhà cấp 4, quầy bán thuốc t y và mái che của nhà cấp 4 là do Bà V làm và x y dựng hông đưa vào để chia thừa ế.
Xét Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 16/8/2013 do cụ Trần Ngọc Ú tặng cho bà Trần Thị V diện tích đất 152m2:
Tại thời điểm cụ Ú tặng cho Bà V quyền sử dụng đất 152m2 (đất ở: 50m2, đất BHK: 102m2) vào ngày 16/8/2013 cần xác định cụ có quyền sử dụng đất trong hối tài sản chung của vợ chồng là 390m2/2 = 195m2 đất, như vậy diện tích cụ Ú tặng cho ít hơn tài sản của cụ có trong hối tài sản chung với cụ Duê, việc tặng cho được lập thành hợp đồng được chứng thực theo quy định. Bà V cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tuy nhiên đã bị thu hồi bởi l do: trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận hông đúng, có việc giả mạo chữ trong văn bản ph n chia di sản thừa ế của cụ bà Đinh Thị D, Thông báo niêm yết hông thực hiện công hai và số thông báo hông vào sổ; hông họp Hội đồng đăng đất đai nhưng có văn bản xét duyệt cấp đổi giấy chứng nhận và giả mạo chữ của thành viên cuộc họp. Như vậy, cần xác định chí của cụ Ú vẫn tồn tại, không có sự thay đổi trong việc tặng cho Bà V. Do đó cần công nhận Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 16/8/2013 giữa cụ Trần Ngọc Ú và bà Trần Thị V có hiệu lực.
. Từ ph n tích ở mục [2.3] và [2.4] xác định di sản của cụ Ú, cụ Dđể lại còn (1) thửa đất số 119, tờ bản đồ số 3, tại thôn T, xã Q, thị xã B, t nh Quảng Bình (nay là thôn T, xã N, t nh Quảng Trị), được UBND huyện Quảng Trạch cấp mang tên cụ Trần Ngọc Ú vào ngày 12/5/1994, diện tích 390m2 (trong đó 200m2 đất ở và 190m2 đất BHK) - 152m2 (đất ở: 50m2, đất BHK: 102m2) = 238m2 (đất ở: 150m2, đất BHK: 88m2)
(2) 01 ngôi nhà hai tầng, 04 ki ốt và một mái che sát nhà hai tầng;
. Về giá trị của di sản thừa ế theo giá thị trường do Hội đồng định giá tài sản ngày 06/12/2024 xác định:
01 ngôi nhà 2 tầng trị giá 1.413.621.000 đồng; i ốt số 1 trị giá 17.666.000 đồng; i ốt số 2 trị giá 9.855.000 đồng; ki t s 3 trị giá 17.812.000 đ ng; i ốt số 4 trị giá 18.469.000 đồng; 01 mái che giáp với ngôi nhà hai tầng trị giá 3.204.000 đồng; đất trị giá: 318.080.000 đồng (đất ở: 150m2 x 2.100.000đ = 315.000.000 đồng, đất BHK: 88m2 x 35.000đ = 3.080.000 đồng). Tổng giá trị di sản là 1.798.707.000 đồng
. Xét yêu cầu chia di sản thừa ế của các đương sự:
Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại đơn háng cáo, bà Trần Thị V xin được nhận 152m2 đất tại phần đất mà bà đang ở của thửa đất số 119, tờ bản đồ số 3 tại Thôn T, xã Q, thị xã B, t nh Quảng Bình (nay là thôn T, xã N, t nh Quảng Trị). Như đã ph n tích ở mục [2.4] cần chấp nhận yêu cầu này của Bà V do Hợp đồng tặng cho QSDĐ ngày 16/8/2013 giữa cụ Trần Ngọc Ú tặng cho bà Trần Thị V vẫn c n giá trị. Ngoài ra bà hông có yêu cầu gì thêm.
Như vậy, toàn bộ di sản của cụ Ú và cụ Dch chia thành 6 ỷ phần, cho 06 người con c n lại. Nhưng ông T1, ông T, ông Th, ông Luyện và bà V1 đều nhất trí giao ỷ phần thừa ế mà mình được hưởng cho ông T được quyền sở hữu và sử dụng mà hông yêu cầu ông T phải giao giá trị của ỷ phần thừa ế cho ông T1, ông T, ông Th, ông Luyện và bà V1. Xét thấy, đ y là sự tự nguyện của ông T1, ông T, ông Th, ông Luyện và bà V1 và phù hợp với pháp luật nên cấp sơ thẩm đã ghi nhận nội dung này. Tại phiên t a phúc thẩm, ông T yêu cầu chia đều di sản cho các đồng thừa ế, tuy nhiên về cấu trúc nhà, tài sản trên đất hông thể chia bằng hiện vật, mặt hác các đồng thừa ế hông có ai thay đổi iến về việc giao ỷ phần được hưởng cho ông T, do đó cần giữ nguyên sự tự nguyện của các đương sự.
. Xét hiện trạng đất để ph n chia di sản thừa ế.
Hiện nay, trên thửa đất số 119, tờ bản đồ số 3 tại thôn T, xã Q, thị xã B, t nh Quảng Bình (nay là thôn T, xã N, t nh Quảng Trị), bà Trần Thị V đã x y nhà cấp 4 gắn liền với quầy bán thuốc t y và mái che để ở ổn định và kinh doanh buôn bán, hiện tại Bà V cũng hông có nơi ở nào hác. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà được cấp năm 2013, thì nhà cấp 4 + mái che, quầy thuốc t y, i ốt số 4 và một phần i ốt số 3 đều nằm trên phần đất đã được cấp. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi cho Bà V cần giao toàn bộ phần diện tích đất mà Bà V đã làm nhà, quầy bán thuốc t y và mái che, đất có i ốt số 4 và 1 phần đất có i ốt số 3; tổng diện tích đất giao cho Bà V 152m2 bà được quyền sở hữu và sử dụng. Nhưng hi giao phần đất liên quan đến i ốt số 3 sẽ ảnh hưởng đến ết cấu của i ốt cần buộc tháo dỡ i ốt số 3. Do đó, buộc Bà V có trách nhiệm giao cho các đồng thừa ế c n lại giá trị tài sản i ốt số 3 là 17.812.000 đồng và i ốt số 4 là 18.469.000 đồng, tổng cộng: 36.281.000 đồng là hoàn toàn phù hợp.
Đối với ông Trần Ngọc T được nhận 06 ỷ phần có giá trị 1.798.707.000 đồng nhưng thực tế được nhận tổng giá trị các tài sản là 1.798.707.000 đồng – 36.281.000 đồng = 1.762.426.000 đồng. Gồm đất có diện tích 238m2 (đất ở: 150m2, đất vườn: 88m2), trên đất có nhà 2 tầng + mái che 21,8m2, i ốt số 1, i ốt số 2.
Ngoài ra, phần diện tích đất tăng thêm theo ết quả xem xét thẩm định tại chỗ là 483,7m2 nằm ở cạnh phía Đông và phía Nam của thửa đất số 119, tờ bản đồ số 3 cần giao cho ông Trần Ngọc T đại diện cho những người c n lại thuộc hàng thừa ế thứ 1 của cụ Trần Ngọc Ú được quyền quản l , ông T có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được cấp đất nếu đủ điều iện.
Về chi phí tố tụng: Tổng số tiền chi phí cho việc xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 7.200.000 đồng/7 = 1.029.000 đồng. Ông Trần Ngọc T phải nộp 6.171.000 đồng, bà Trần Thị V phải nộp 1.029.000 đồng. Số tiền này Bà V đã nộp nên buộc ông Trần Ngọc T phải trả lại cho bà Trần Thị V số tiền 6.171.000 đồng.
Về án phí: ông Trần Đức T1 là người cao tuổi, ông Trần Đức T là người huyết tật nặng đều có đề nghị áp dụng chính sách miễn án phí là phù hợp luật định, nhưng ông Trần Ngọc T được nhận thừa ế là 6 ỷ phần, do đó ông T phải chịu án phí toàn bộ; Bà Trần Thị V không phải chịu án phí d n sự nên được trả lại số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp trước đ y tại Chi cục Thi hành án d n sự thị xã Ba Đồn theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí T a án số 0003419 ngày 02/10/2024.
. Từ ph n tích ở mục [2], [4] HĐXX nhận thấy cần sửa án sơ thẩm theo hướng công nhận diện tích 152m2 đất cho Bà V, c n lại 6 ỷ phần giao cho ông T được quyền sở hữu, sử dụng và định đoạt; sửa án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào hoản 2 Điều 308, 309 Bộ luật tố tụng d n sự: chấp nhận háng cáo của các đương sự, sửa Bản án d n sự sơ thẩm số 10/2025/TCDS-ST ngày 12/9/2025 của TAND hu vực 3 – Quảng Trị.
Áp dụng Điều 623 Bộ luật D n sự năm 2015; các Điều 633, 634, 635, 676, 685 Bộ luật D n sự năm 2005; Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định án phí và lệ phí Toà án, xử:
1. Chấp nhận yêu cầu hởi iện của nguyên đơn bà Trần Thị V:
1.1. Công nhận và giao cho bà Trần Thị V được quyền sử dụng diện tích đất 152m2 (trong đó 50m2 đất ở và 87,81m2 đất BHK) thuộc thửa đất số 119, tờ bản đồ số 3 có diện tích 390m2 (trong đó 200m2 đất ở và 190m2 đất vườn) tại thôn T, xã Q, thị xã B, t nh Quảng Bình (nay là thôn T, xã N, t nh Quảng Trị) theo bản đồ điạ chính năm 1993; tài sản gắn liền trên đất có nhà cấp 4 diện tích 59,7m2 + mái che 12,2m2, nhà thuốc 27,6m2, i ốt số 4 diện tích: 25,3m2
1.2. Buộc tháo dỡ, phá bỏ i ốt số 3 hi giao đất cho bà Trần Thị V.
2. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Đức T1, ông Trần Đức T, ông Trần Ngọc Th, ông Trần Đức L và bà Trần Thị V1 giao ỷ phần di sản thừa ế mà các ông, bà được hưởng cho ông Trần Ngọc T được quyền sở hữu và sử dụng.
3. Giao cho ông Trần Ngọc T được quyền sử dụng diện tích đất 238m2 (trong đó 150m2 đất ở và 88m2 đất BHK) tại thửa đất số 119, tờ bản đồ số 3, thôn T, xã Q, thị xã B, t nh Quảng Bình (nay là thôn T, xã N, t nh Quảng Trị) theo bản đồ địa chính năm 1993; tài sản gắn liền trên đất là 01 ngôi nhà hai tầng + một mái che sát nhà hai tầng 21,8m2; 02 i ốt (số 01 diện tích: 24,2m2, số 02 diện tích: 13,5m2) có tổng trị giá 1.762.426.000 đồng;
Tạm giao phần diện tích đất tăng thêm theo ết quả xem xét thẩm định tại chỗ là 483,7m2 nằm ở cạnh phía Đông và phía Nam của thửa đất số 119, tờ bản đồ số 3 cho ông Trần Ngọc T đại diện cho những người thuộc hàng thừa ế thứ 1 của cụ Trần Ngọc Ú được quyền quản l . (Tứ cận, kích thước phần diện tích đất mà ông T, Bà V được giao có sơ đồ kèm theo)
4. Buộc bà Trần Thị V phải trả cho ông Trần Ngọc T số tiền giá trị của i ốt số 3 và số 4 là: 36.281.000 đồng
5. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Trần Ngọc T phải trả 6.171.000 đồng cho bà Trần Thị V.
6. Về án phí:
6.1. Án phí d n sự sơ thẩm: Ông Trần Ngọc T phải nộp 65.961.000 đồng án phí d n sự có giá ngạch. Bà Trần Thị V được trả lại số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp trước đ y tại Chi cục Thi hành án d n sự thị xã Ba Đồn theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí T a án số 0003419 ngày 02/10/2024.
6.2. Án phí d n sự phúc thẩm các bên hông phải chịu.
- Trả lại cho bà Trần Thị V số tiền 300.000 đồng tại Biên lai số 0000320 ngày 26/9/2025 của Thi hành án d n sự t nh Quảng Trị.
- Trả lại cho ông Trần Ngọc T số tiền 300.000 đồng tại Biên lai số 0000316 ngày 25/9/2025 của Thi hành án d n sự t nh Quảng Trị.
- Trả lại cho ông Trần Đức T1 số tiền 300.000 đồng tại Biên lai số 0000469 ngày 06/10/2025 của Thi hành án d n sự t nh Quảng Trị.
7. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự”.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.”
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (20/01/2026).
| Nơi nhận: - VKSND t nh Quảng Trị; - TAND hu vực 3-Quảng Trị; - THADS t nh Quảng Trị; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Hoàng Thị Thanh Nhàn |