vanban.org

Bản án 10/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1.1]. Bị cáo Ma Văn Cung phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

[1.2]. Bị cáo Hà Văn Hưng phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2025/HS-STngày 24/09/2025 của Toà án nhân dân khu vực 9 - Thái Nguyên - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy…"
  • Tòa quyết gì? [1.1]. Bị cáo Ma Văn Cung phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 - THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10 /2025/HS-ST
Ngày 24/9/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đàm Thị Minh Hường

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Nga

Ông Vũ Xuân Quảng

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Cao Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2025, tại Hội trường Trụ sở Công an xã Thượng Minh, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa lưu động công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 04/2025/HSST ngày 27/8/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS ngày 10/9/2025, đối với các bị cáo:

1. Ma Văn Cung (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam.

Sinh ngày: 15/6/1978. Nơi sinh: xã Đồng Phúc, tỉnh Thái Nguyên.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Nà Bjoóc, xã Đồng Phúc, tỉnh Thái Nguyên.

Dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.

Đảng, đoàn: Không.

Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 2/12.

Họ tên cha: Ma Thiên Vương (đã chết). Họ tên mẹ: Đồng Thị Bài, sinh năm 1951.

Vợ: Trương Thị Nga, sinh năm 1982.

Con: có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2003.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2024 đến nay tại Trại tạm giam số 02

- Công an tỉnh Thái Nguyên. Có mặt tại phiên tòa.

2. Hà Văn Hưng (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam.

Sinh ngày: 16/3/1994. Nơi sinh: xã Đồng Phúc, tỉnh Thái Nguyên.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Nà Thẩu, xã Đồng Phúc, tỉnh Thái Nguyên.

Dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.

Đảng, đoàn: Không.

Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 7/12.

Họ tên cha: Hà Văn Khuynh (đã chết). Họ tên mẹ: Lý Thị Thanh, sinh năm 1972.

Vợ: Hoàng Thị Thuyền, sinh năm 1998.

Con: có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2019, con nhỏ nhất sinh năm 2021.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2024 đến nay tại Trại tạm giam số 02

- Công an tỉnh Thái Nguyên. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Đinh Xuân Diệu. Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước số 2, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Triệu Văn Hiệp, sinh năm 1983. Trú tại: Thôn Tổng Chảo, xã Đồng Phúc, tỉnh Thái Nguyên. (đồng thời là người làm chứng). Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Lộc Xuân Bách, sinh năm 1973. Trú tại: Thôn Cốc Coọng, xã Đồng Phúc, tỉnh Thái Nguyên. (đồng thời là người làm chứng). Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

3. Ma Văn Dựng, sinh năm 1982. Trú tại: Thôn Nà Lườn, xã Đồng Phúc, tỉnh Thái Nguyên. (đồng thời là người làm chứng). Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

4. Hoàng Văn Sáng, sinh năm 1989. Trú tại: Thôn Nà Lườn, xã Đồng Phúc, tỉnh Thái Nguyên. (đồng thời là người làm chứng). Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

5. Ma Văn Giáp, sinh năm 2001. Trú tại: Thôn Nà Bjoóc, xã Đồng Phúc, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: Mùng Ngọc Ánh, sinh năm 1990. Trú tại: Thôn Nà Pài, xã Đồng Phúc, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt, không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 22 giờ 30 phút ngày 22/12/2024, Đội Điều tra tổng hợp Công an huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (cũ) phối hợp với Công an xã Đồng Phúc, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (cũ) bắt quả tang các đối tượng: Ma Văn Cung, Hà Văn Hưng, Lộc Xuân Bách, Triệu Văn Hiệp, Ma Văn Dựng, Hoàng Văn Sáng, Mùng Ngọc Ánh có hành vi mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy tại thôn Nà Thẩu, xã Đồng Phúc, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn (nay là thôn Nà Thẩu, xã Đồng Phúc, tỉnh Thái Nguyên).

Tang vật thu giữ gồm:

- 01 (một) gói được gói bằng giấy tráng kim loại màu trắng bạc có dấu hiệu bị đốt cháy một phần, bên trong chứa chất dạng cục bột màu trắng nghi là chất ma tuý heroine, phát hiện tại chiếc mâm màu trắng kê trên chậu nhựa màu xanh đặt ở giữa gian bếp nhà Hà Văn Hưng, niêm phong vào phong bì ký hiệu F1.

- 03 (ba) bật lửa gas màu đỏ hồng đã qua sử dụng; 06 (sáu) mảnh giấy tráng kim loại màu trắng bạc, trên bề mặt có dấu hiệu bị đốt cháy, phát hiện tại chiếc mâm màu trắng kê trên chậu nhựa màu xanh đặt ở giữa gian bếp nhà Hà Văn Hưng, niêm phong vào phong bì ký hiệu F2.

- 02 (hai) bật lửa gas màu đỏ hồng đã qua sử dụng; 01 (một) mảnh giấy tráng kim loại màu trắng bạc, trên bề mặt có dấu hiệu bị đốt cháy, phát hiện tại mặt đất gần cửa ra vào gian bếp nhà Hà Văn Hưng, niêm phong vào phong bì ký hiệu F3.

- 02 (hai) gói trong đó: 01 (một) gói được gói bằng hai lớp giấy tráng kim loại màu trắng vàng và 01 (một) gói được gói bằng lớp giấy tráng kim loại màu trắng bạc, bên trong đều chứa chất dạng cục, bột màu trắng nghi là chất ma túy heroine, phát hiện tại túi áo khoác phía trước bên trái Ma Văn Cung đang mặc, niêm phong 02 (hai) gói trên vào phong bì ký hiệu C1;

- 02 (hai) điện thoại di động của Ma Văn Cung, trong đó: 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng màu đen bạc, phía sau in chữ "IPHONE", có ốp bằng nhựa dẻo trong suốt, điện thoại đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động có bàn phím, màu đen, mặt trước, mặt sau in chữ "VIETTEL", điện thoại cũ đã qua sử dụng, niêm phong 02 (hai) chiếc điện thoại vào phong bì ký hiệu C2.

- Số tiền 3.420.000đ (Ba triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng), phát hiện tại túi áo khoác bên trong phía trước bên trái Cung mặc, niêm phong vào phong bì ký hiệu C3.

- 01 (một) gói được gói bằng giấy tráng kim loại màu trắng vàng, bên trong chứa chất dạng cục, bột nghi là chất ma tuý heroine, phát hiện giữa khe hở của vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng và lớp nilon màu trắng trong suốt, trên tay phải Hưng đang cầm, niêm phong vào phong bì ký hiệu H1;

- 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu xanh đen, phía sau in chữ "INFINIX", có ốp bằng nhựa dẻo trong suốt, điện thoại đã qua sử dụng, phát hiện trong túi quần phía trước bên trái Hưng mặc, niêm phong vào phong bì ký hiệu H2.

- 01 (một) gói được gói bằng giấy tráng kim loại màu trắng bạc, bên trong chứa chất dạng cục, bột màu trắng nghi là chất ma tuý heroine, phát hiện ở giữa khe hở của vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng và lớp nilon màu trắng trong suốt tại túi quần phía trước bên phải Hiệp đang mặc, niêm phong vào phong bì ký hiệu P1.

- 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu đen, phía sau in chữ "OPPO", có ốp bằng nhựa dẻo màu đen, tím, vàng, điện thoại đã qua sử dụng, phát hiện trong túi quần phía trước bên trái Hiệp mặc, niêm phong vào phong bì ký hiệu P2.

- 01 (một) gói được gói bằng giấy tráng kim loại màu trắng bạc, bên trong chứa chất dạng cục, bột màu trắng nghi là chất ma tuý heroine. Phát hiện trong túi áo khoác phía trước bên phải Sáng mặc, niêm phong vào phong bì ký hiệu S1.

- 01 (một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng, màu xanh đen, phía sau in chữ "VIVO", có ốp bằng nhựa dẻo trong suốt, điện thoại đã qua sử dụng. Phát hiện trong túi quần phía trước bên phải Sáng mặc, niêm phong vào phong bì ký hiệu S2.

- 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng màu đỏ đen, phía sau in chữ "VIVO", điện thoại cũ đã qua sử dụng, phát hiện tại túi quần phía trước bên trái Ma Văn Dựng mặc, niêm phong vào phong bì ký hiệu D1.

- 01 (một) điện thoại di động có bàn phím, màu xanh đen, mặt trước, mặt sau in chữ "MASSTEL", điện thoại đã qua sử dụng, phát hiện trong túi quần phía trước bên phải Lộc Xuân Bách mặc, niêm phong vào phong bì ký hiệu B1.

Kiểm tra trên người Mùng Ngọc Ánh không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Bể (cũ) đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp số 283/LKX-ĐTTH tiến hành khám xét chỗ ở và các công trình phụ cận có liên quan của Hà Văn Hưng tại thôn Nà Thẩu, xã Đồng Phúc. Kết quả khám xét thu giữ, tạm giữ:

- 33 (Ba mươi ba) gói, trong đó có 03 (ba) gói được gói bằng giấy tráng kim loại một mặt màu trắng, một mặt màu vàng, bên trong đều chứa chất dạng cục, bột màu trắng nghi là chất ma tuý heroine, phát hiện trong ba lô màu đen treo trên tường tại buồng ngủ của Hưng và 30 (ba mươi) gói đều được gói bằng giấy tráng kim loại màu trắng bạc, bên trong cả 30 (ba mươi) gói đều chứa chất dạng cục, bột màu trắng nghi là chất ma tuý heroine, phát hiện trong túi bạt màu nâu trắng để trong giỏ nhựa màu đỏ kê trên viên gạch ở góc phòng ngủ của Hưng. Niêm phong 33 (ba mươi ba) gói trên vào phong bì ký hiệu HC1.

- Số tiền 930.000đ (Chín trăm ba mươi nghìn đồng), phát hiện tại ngăn dưới bên phải tủ quần áo kê trong buồng ngủ của Hưng, niêm phong vào phong bì ký hiệu HC2.

- Số tiền 19.000.000đ (Mười chín triệu đồng), phát hiện trong hộp kim loại hình trụ tròn tại ngăn dưới bên phải tủ quần áo kê trong buồng ngủ của Hưng, niêm phong vào phong bì ký hiệu HC3.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Bể (cũ) đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp số: 284/LKX-ĐTTH tiến hành khám xét chỗ ở và các công trình phụ cận có liên quan của Ma Văn Cung tại thôn Nà Bjoóc, xã Đồng Phúc. Kết quả khám xét không thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu, tài sản gì liên quan đến hành vi phạm tội.

Tiến hành mở niêm phong, kiểm tra, cân xác định khối lượng vật chứng thu giữ nghi là ma túy được niêm phong trong phong bì ký hiệu P1, F1, S1, H1, C1, HC1. Kết quả:

- Khối lượng chất dạng cục, bột màu trắng trong các phong bì ký hiệu P1, F1 là 0,03g (Không phẩy không ba gam). Niêm phong số chất dạng cục, bột trên vào phong bì ký hiệu T1.

- Khối lượng chất dạng cục, bột màu trắng trong phong bì ký hiệu S1 là 0,06g (Không phẩy không sáu gam). Niêm phong số chất dạng cục, bột trên vào trong phong bì ký hiệu T3.

- Khối lượng chất dạng cục, bột màu trắng trong phong bì ký hiệu H1 là 0,06g (Không phẩy không sáu gam). Niêm phong số chất dạng cục, bột trên vào trong phong bì ký hiệu T5.

- Khối lượng chất dạng cục, bột màu trắng trong phong bì ký hiệu C1 là 0,12g (Không phẩy một hai gam). Niêm phong số chất dạng cục, bột trên vào trong phong bì ký hiệu T7.

- Khối lượng chất dạng cục, bột màu trắng trong phong bì ký hiệu HC1 là 1,97g (Một phẩy chín bảy gam). Niêm phong số chất dạng cục, bột trên vào trong phong bì ký hiệu T9.

Kết luận giám định số 31/KL-KTHS ngày 30/12/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn (cũ) kết luận:

- Mẫu chất dạng cục, bột màu trắng trong các phong bì ký hiệu T1, T3, T5, T7, T9 gửi giám định đều là ma túy; loại Heroine (Heroine), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định danh mục chất ma túy và tiền chất.

- Mẫu chất dạng cục, bột màu trắng trong phong bì ký hiệu T1 có khối lượng là 0,03g (Không phẩy không ba gam).

- Mẫu chất dạng cục, bột màu trắng trong phong bì ký hiệu T3 có khối lượng là 0,06g (Không phẩy không sáu gam).

- Mẫu chất dạng cục, bột màu trắng trong phong bì ký hiệu T5 có khối lượng là 0,06g (Không phẩy không sáu gam).

- Mẫu chất dạng cục, bột màu trắng trong phong bì ký hiệu T7 có khối lượng là 0,12g (Không phẩy một hai gam).

- Mẫu chất dạng cục, bột màu trắng trong phong bì ký hiệu T9 có khối lượng là 1,97g (Một phẩy chín bảy gam).

Sau giám định, mẫu chất trong phong bì ký hiệu T1 còn lại 0,01g, mẫu chất trong phong bì ký hiệu T3 còn lại 0,03g, mẫu chất trong phong bì ký hiệu T5 còn lại 0,03g, mẫu chất trong phong bì ký hiệu T7 còn lại 0,09g, mẫu chất trong phong bì ký hiệu T9 còn lại 1,94g cùng toàn bộ phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T22 hoàn trả lại cho Cơ quan trưng cầu.

Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra đủ căn cứ xác định:

Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 22/12/2024, Ma Văn Cung sử dụng xe mô tô biển số đăng ký 20E1-091.85 của Ma Văn Giáp (con trai của Ma Văn Cung) đi từ nhà của Hà Văn Hưng tại thôn Nà Thẩu, xã Đồng Phúc đến khu vực Cổng cơ sở điều trị Methadone huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn (cũ) và mua được một gói ma túy heroine của một người đàn ông không quen biết với số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng), mục đích là để sử dụng và bán kiếm lời (trước khi đi, Cung đã nói chuyện với Hưng và Hưng biết việc Cung đi tìm mua ma túy về sử dụng và bán). Sau khi mua được ma túy, Cung cầm gói ma túy quay về nhà Hưng.

Khoảng 15 giờ cùng ngày, Cung đến nhà Hưng, Cung đi vào buồng ngủ gọi Hưng dậy và cả hai đã thống nhất với nhau: Hưng hộ Cung chia ma tuý, hộ cất giấu ma tuý, hộ bán ma túy và cho Cung bán, sử dụng (hít) ma túy tại nhà của Hưng thì Cung sẽ trả công bằng ma túy cho Hưng. Sau đó Cung và Hưng xé nhiều mảnh giấy tráng kim loại trong các vỏ bao thuốc lá có sẵn trong buồng ngủ Hưng rồi cả hai ngồi lên giường, Cung lấy gói ma túy, 02 (hai) tờ tiền mệnh giá 10.000đ (Mười nghìn đồng) và cùng Hưng cuộn tờ tiền thành hình ống rồi xúc ma túy ra các mảnh giấy tráng kim loại và gói lại được 60 (sáu mươi) gói ma túy. Chia xong, Cung đưa cho Hưng 33 (ba mươi ba) gói ma túy đế Hưng cất bán, sau đó Cung lấy 02 (hai) gói ma túy trong tổng 27 (hai mươi bảy) gói ma túy còn lại đưa cho Hưng. Hưng cầm 02 (hai) gói ma tuý, cất giấu 01 (một) gói vào trong túi quần còn 01 (một) gói mở ra, lấy bật lửa (do Hưng tự chuẩn bị) sử dụng ma tuý bằng hình thức hít. Cùng lúc đó Cung cũng lấy 01 (một) gói ma túy mở ra, dùng bật lửa (do Cung tự chuẩn bị) sử dụng ma tuý bằng hình thức hít. Sử dụng xong, Hưng đứng dậy cất giấu 30 (ba mươi) gói vào trong túi bạt màu nâu trắng để trong giỏ nhựa màu đỏ kê trên viên gạch ở góc buồng ngủ, cất giấu 03 (ba) gói trong ba lô màu đen treo trên tường tại buồng ngủ. Cung cất giấu số ma túy còn lại vào trong túi áo ngực phía trước bên trong của mình đang mặc.

Tiếp đó, tại buồng ngủ của Hưng, Cung và Hưng còn sử dụng ma túy với nhau thêm khoảng 04 đến 05 lần, mỗi lần sử dụng Cung lấy ma túy trong túi áo ra 01 (một) gói rồi chia cho Hưng một nửa và cả hai tiếp tục tự sử dụng bằng hình thức hít.

Trong ngày 22/12/2024, Cung, Hưng đã có hành vi bán ma túy và Hưng đã cho những người khác sử dụng ma túy tại nhà như sau:

Lần 1: Hồi 20 giờ 40 phút, Lộc Xuân Bách gọi điện thoại cho Cung hỏi mua ma tuý, Cung đồng ý bán và bảo Bách đến nhà Hưng để lấy. Khoảng 35 phút sau, Bách đến nhà Hưng và đi vào bếp thấy Cung và Hưng đang ở trong bếp, tại đây Bách đưa cho Cung số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng), Cung cầm tiền và đưa cho Bách 01 (một) gói ma tuý. Mua được ma tuý Bách ngồi xuống ghế trong bếp nhà Hưng, mở gói ma tuý ra, dùng bật lửa (Bách chuẩn bị từ trước) sử dụng ma tuý bằng hình thức hít, Cung và Hưng đều nhìn thấy Bách sử dụng ma túy, sau đó Cung đi ra bụi chuối phía sau nhà của Hưng sử dụng ma túy rồi quay vào nhà chính của Hưng.

Lần 2: Hồi 21 giờ 22 phút, Triệu Văn Hiệp nhắn tin qua ứng dụng Messenger để hỏi mua ma tuý với Hưng và được Hưng đồng ý bán. Khoảng 5 phút sau, Hiệp đi vào bếp nhà Hưng nhìn thấy Bách đang sử dụng ma tuý, Hưng đang trong bếp. Hiệp hỏi mua 01 (một) gói ma túy giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) với Hưng, Hưng đi ra hiên trước cửa nhà chính gặp Cung lấy 01 (một) gói ma túy rồi quay lại bếp đưa cho Hiệp, Hiệp cầm gói ma túy nhưng chưa trả tiền cho Hưng mà chia ma túy thành 02 (hai) gói nhỏ, 01 (một) gói để vào khe hở giữa vỏ bao thuốc lá Thăng Long và lớp túi nilon rồi cất giấu vào túi quần, còn 01 (một) gói Hiệp mở ra, ngồi xuống ghế trong bếp của Hưng rồi dùng bật lửa (Hiệp chuẩn bị từ trước) sử dụng ma tuý bằng hình thức hít. Bách và Hưng nhìn thấy Hiệp sử dụng ma túy.

Lần 3: Khoảng 21 giờ 35 phút, Ma Văn Dựng và Hoàng Văn Sáng đến nhà Hưng (trước đó Dựng đã gọi điện thoại cho Cung hỏi mua ma túy, Cung đồng ý bán và chỉ đường cho Dựng đến nhà Hưng). Đến nơi, Sáng đi thẳng vào trong bếp ngồi sưởi lửa còn Dựng đi ra nhà chính gặp Cung để mua ma tuý. Tại đây, Dựng đưa số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) cho Cung, Cung cầm tiền và đưa cho Dựng 01 (một) gói ma túy rồi Cung đi ra bụi chuối sau nhà Hưng sử dụng ma túy một mình. Dựng cầm gói ma túy ra cửa gọi Sáng từ trong bếp ra và đưa cho Sáng cầm cất giấu vào túi áo của Sáng. Cùng lúc này có Mùng Ngọc Ánh cũng đến nhà Hưng để tìm mua ma túy, túy nhiên đến cửa bếp thấy có nhiều người nên Ánh định quay về.

Lúc này, Cung vừa sử dụng xong ma túy và quay lại nhà chính của Hưng thì Dựng, Sáng và Ánh đang chuẩn bị về; Bách đã sử dụng xong ma túy và ngồi ở bếp; Hiệp vẫn đang sử dụng ma tuý tại bếp; Hưng ngồi trong bếp thì cơ quan Công an vào bắt quả tang.

Quá trình giải quyết vụ án, các bị cáo Ma Văn Cung, Hà Văn Hưng đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.

Bị cáo Ma Văn Cung thừa nhận trong ngày 22/12/2024, đã thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy, loại heroine 03 (ba) lần, mỗi lần 01 (một) gói cho 03 (ba) đối tượng tại nhà của Hà Văn Hưng ở thôn Nà Thẩu, xã Đồng Phúc, tỉnh Thái Nguyên, thu lợi bất chính số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Ngoài ra không còn được bán ma túy cho ai. Đối với số ma túy bị cáo giữ trên người, bị cáo đã cùng Hà Văn Hưng sử dụng nhiều lần, sau đó một mình bị cáo tự sử dụng nhiều lần nên chỉ còn lại 02 gói (đã bị Cơ quan Công an thu giữ).

Bị cáo Hà Văn Hưng thừa nhận đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy bằng hình thức giúp Cung chia ma tuý, giúp cất giấu ma tuý, giúp bán ma túy, cho Ma Văn Cung sử dụng địa điểm nhà mình để bán và sử dụng trái phép chất ma túy với mục đích để được Cung trả công bằng ma tuý. Ngoài hành vi giúp Cung bán ma túy, Hà Văn Hưng còn thừa nhận hành vi cho Ma Văn Cung, Lộc Xuân Bách, Triệu Văn Hiệp sử dụng ma túy tại nhà của Hưng.

Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo khai nhận không phân công cụ thể ai người bán ma túy, nhưng nếu ai hỏi Hưng thì Hưng bán sau đó đưa tiền bán ma túy lại cho Cung, còn nếu ai hỏi Cung thì Cung bán và trực tiếp lấy tiền. Đối với số ma túy còn lại thu giữ trên người các bị cáo và thu giữ tại nhà Hà Văn Hưng, Cung và Hưng đều thừa nhận mục đích để bản thân sử dụng và bán lại cho những người khác nếu có người hỏi mua.

Tại bản Cáo trạng số 03/CT-VKSKV9 ngày 22/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Thái Nguyên, truy tố các bị cáo Ma Văn Cung và Hà Văn Hưng về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Điều luật có nội dung:

"1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

…

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".

Đồng thời, bản Cáo trạng cũng truy tố bị cáo Hà Văn Hưng về tội "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy" quy định tại điểm b khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự.

Điều luật có nội dung:

"1. Người nào cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 255 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

…

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

…

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Thái Nguyên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Ma Văn Cung và Hà Văn Hưng như Cáo trạng đã nêu, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Ma Văn Cung phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58/Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Ma Văn Cung từ 07 (Bảy) năm đến 08 (Tám) năm tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 23/12/2024.

- Tuyên bố bị cáo Hà Văn Hưng phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58/Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Hà Văn Hưng từ 07 (Bảy) năm đến 08 (Tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 256; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51/Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Hà Văn Hưng từ 07 (Bảy) năm đến 08 (Tám) năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng Điều 55/Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Hà Văn Hưng phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 23/12/2024.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo là lao động tự do, thuộc diện hộ nghèo, không có thu nhập ổn định, tuy nhiên các bị cáo thực hiện hành vi vi phạm pháp luật vì mục đích lợi nhuận, tài sản thu giữ của các bị cáo trong vụ án có, hơn nữa việc áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo thì mới đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa chung, vì vậy căn cứ khoản 5 Điều 251/BLHS đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phạt tiền mỗi bị cáo từ 5.000.000đ (Năm triệu đồng) đến 6.000.000đ (Sáu triệu đồng) để sung công quỹ Nhà nước.

Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47/BLHS; Điều 106/BLTTHS

+ Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T22. Bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định cùng phong bì, giấy gói cũ; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu F2. Bên trong chứa 03 (ba) bật lửa gas màu đỏ hồng, 06 (sáu) mảnh giấy tráng kim loại màu trắng bạc thu giữ tại trong bếp nhà Hà Văn Hưng; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu F3. Bên trong chứa 02 (hai) bật lửa gas màu đỏ hồng, 01 (một) mảnh giấy tráng kim loại màu trắng bạc, thu giữ tại trong bếp nhà Hà Văn Hưng; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T2. Bên trong chứa phong bì, vỏ bao thuốc lá, giấy gói cũ; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T4. Bên trong chứa phong bì, giấy gói cũ; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T6. Bên trong phong bì chứa phong bì, vỏ bao thuốc lá, giấy gói cũ; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T8. Bên trong chứa phong bì, giấy gói cũ; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T10. Bên trong phong bì chứa phong bì, vỏ bao thuốc lá, giấy gói cũ.

+ Tịch thu hoá giá, sung công quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động có bàn phím màu đen, mặt trước in chữ "VIETTEL" thu giữ của Ma Văn Cung; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng màu xanh đen, phía sau in chữ "INFINIX", có ốp bằng nhựa dẻo, thu giữ của Hà Văn Hưng, trong quá trình điều tra và tại phiên toà xác định các bị cáo đã sử dụng để liên lạc mua bán trái phép chất ma tuý, tình trạng: đều đã qua sử dụng để hoá giá sung công quỹ Nhà nước. Đối với chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng màu đen bạc, phía sau in chữ "IPHONE", có ốp bằng nhựa dẻo trong suốt thu giữ của Ma Văn Cung xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo Cung, nhưng tạm giữ để thi hành án đối với phần thi hành án dân sự của Ma Văn Cung.

+ Trả lại cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan những tài sản, đồ vật sau: Trả lại cho Lộc Xuân Bách 01 (một) điện thoại di động có bàn phím màu xanh đen, mặt sau in chữ "MASSTEL"; Trả lại cho Ma Văn Dựng 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng màu đỏ đen, phía sau in chữ "VIVO"; Trả lại cho Hoàng Văn Sáng 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng màu xanh đen, phía sau in chữ "VIVO", có ốp bằng nhựa dẻo; Trả lại cho Triệu Văn Hiệp 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng màu đen, phía sau in chữ "OPPO", có ốp bằng nhựa dẻo. Tình trạng: đều đã qua sử dụng; Trả lại cho Ma Văn Giáp: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu đỏ đen, biển số đăng ký 20E1-091.85 do Ma Văn Cung giao nộp và số tiền 19.000.000đ (Mười chín triệu đồng).

+ Trả lại cho bị cáo Hà Văn Hưng số tiền thu, giữ là 930.000đ (Chín trăm ba mươi nghìn đồng) do xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng tiếp tục tạm giữ để thi hành án đối với phần thi hành án dân sự của Hà Văn Hưng;

+ Số tiền thu, tạm giữ của bị cáo Ma Văn Cung là 3.420.000đ (Ba triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng), trong đó có 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) do bị cáo phạm tội mà có, 20.000đ (Hai mươi nghìn đồng) là tiền do các bị cáo sử dụng làm công cụ để chia ma tuý, nên tịch thu xung công quỹ Nhà nước. Trả lại cho bị cáo Ma Văn Cung số tiền còn lại là 3.100.000đ (Ba triệu một trăm nghìn đồng) do xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng tiếp tục tạm giữ để thi hành án đối với phần thi hành án dân sự của Ma Văn Cung.

+ Về án phí: Các bị cáo cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí nên đề nghị miễn án phí cho các bị cáo.

Tại bản luận cứ của người bào chữa cho các bị cáo thể hiện các nội dung đề nghị không trái quan điểm với bản luận tội của Viện kiểm sát, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đã đưa ra, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí cho các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo để răn đe, phòng ngừa chung.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Thái Nguyên truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên; Người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có đơn xin xét xử vắng mặt và người làm chứng vắng mặt tại phiên toà không có lý do. Hội đồng xét xử xét thấy, tại giai đoạn điều tra đã có đầy đủ lời khai của họ, tại đơn xin xét xử vắng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thay đổi, bổ sung gì và đề nghị được nhận lại những tài sản đã bị thu giữ không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng Hình sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.

. Về tội danh: Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ cơ sở khẳng định:

Sáng ngày 22/12/2024, Ma Văn Cung điều khiển xe mô tô biển số đăng ký 20E1-091.85 đi từ nhà của Hà Văn Hưng tại thôn Nà Thẩu, xã Đồng Phúc, tỉnh Thái Nguyên (thôn Nà Thẩu, xã Đồng Phúc, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn cũ) đến khu vực trước cổng cơ sở điều trị Methadone huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn (cũ) mua được 01 gói ma túy với một người đàn ông không quen biết giá 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Khoảng 15 giờ cùng ngày, Cung quay về đến nhà Hưng. Cả hai cùng thống nhất Hưng hộ Cung chia ma túy, hộ cất giấu ma tuý, hộ bán ma túy và cho Cung bán, sử dụng (hít) ma túy tại nhà của Hưng thì Cung sẽ trả công bằng ma tuý cho Hưng. Sau đó, Cung và Hưng giúp nhau chia ma túy thành 60 gói nhỏ với mục đích để sử dụng và bán lại cho những người nghiện khác để kiếm lời. Trong ngày 22/12/2024 tại nhà của Hà Văn Hưng, Ma Văn Cung và Hà Văn Hưng đã thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy, loại heroine 03 (ba) lần cho 03 (ba) đối tượng, thu lợi bất chính 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), cụ thể: Lần 1, khoảng 21 giờ 00 phút, tại trong bếp nhà Hưng, Cung đã bán cho Lộc Xuân Bách 01 (một) gói ma tuý, loại heroine với số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng), Bách đã trả tiền cho Cung; Lần 2, khoảng 21 giờ 25 phút, Cung đưa 01 (một) gói ma túy, loại heroine cho Hà Văn Hưng để Hưng bán cho Triệu Văn Hiệp tại trong bếp nhà Hà Văn Hưng với giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng), Hiệp chưa trả tiền cho Hưng; Lần 3, khoảng 21 giờ 35 phút, tại nhà chính của Hưng, Cung đã bán cho Ma Văn Dựng 01 (một) gói ma túy, loại heroine với số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng), Dựng đã trả tiền cho Cung.

Ngoài ra, trong ngày 22/12/2024, Hưng còn cho Ma Văn Cung sử dụng ma túy tại nhà Hưng nhiều lần (4 đến 5 lần), cho Lộc Xuân Bách, Triệu Văn Hiệp sử dụng ma túy tại nhà Hưng ngay sau khi Bách, Hiệp mua ma túy với Hưng, Cung.

Hội đồng xét xử nhận thấy lời khai của các bị cáo phù hợp với kết luận điều tra, bản cáo trạng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. Hành vi mua bán trái phép chất ma tuý và chứa chấp sử dụng trái phép chất ma tuý của các bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, gây nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội tại địa phương, là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn khác. Vì vậy, cần thiết phải có một hình phạt nghiêm khắc mới đủ sức răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Thái Nguyên truy tố bị cáo Ma Văn Cung về tội “Mua bán trái ph p chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Hà Văn Hưng về tội Mua bán trái ph p chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 251 và tội Chứa chấp việc sử dụng trái ph p chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 256 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án, Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không có sự tổ chức, phân công vai trò cụ thể cho từng bị cáo, các bị cáo đều có vai trò gần tương đương nhau. Tuy nhiên, để đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo thì bị cáo Ma Văn Cung giữ vai trò là chủ mưu, là người bỏ tiền và đi mua ma tuý về để rủ Hà Văn Hưng cùng bán kiếm lời. Còn bị cáo Hà Văn Hưng biết việc mua bán trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật, nhưng Hưng không những không ngăn cản hành vi vi phạm pháp luật của Cung mà còn tích cực ủng hộ, tạo điều kiện về địa điểm và cùng Cung phạm tội. Do đó, khi xem xét mức hình phạt cần cân nhắc đến vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo.

. Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.

. Các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa từng vi phạm pháp luật.

. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS.

. Về hình phạt:

. Hình phạt chính: Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án, Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không có sự tổ chức, phân công vai trò cụ thể cho từng bị cáo, các bị cáo đều có vai trò gần tương đương nhau. Tuy nhiên, để đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo thì bị cáo Ma Văn Cung giữ vai trò là chủ mưu, là người bỏ tiền và đi mua ma tuý về để rủ Hà Văn Hưng cùng bán kiếm lời. Còn bị cáo Hà Văn Hưng biết việc mua bán trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật, nhưng Hưng không những không ngăn cản hành vi vi phạm pháp luật của Cung mà còn tích cực ủng hộ, tạo điều kiện về địa điểm và cùng Cung phạm tội. Do đó, khi xem xét mức hình phạt cần cân nhắc đến vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo. Xét thấy, mức hình phạt theo đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, căn cứ nhân thân, tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ với mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội để bảo đảm tính răn đe và phòng ngừa chung.

. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ quy định tại khoản 5 Điều 251/Bộ luật Hình sự, các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tuy nhiên hành vi của các bị cáo có mục đích lợi nhuận, lại diễn ra nhiều lần, hơn nữa các bị cáo chỉ có đơn xin miễn án phí không xin miễn hình phạt bổ sung, mặt khác với tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung nhằm răn đe, phòng ngừa chung, cụ thể:

- Áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) đối với bị cáo Ma Văn Cung để sung công quỹ Nhà nước.

- Áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) đối với bị cáo Hà Văn Hưng để sung công quỹ Nhà nước.

. Vật chứng trong vụ án: Áp dụng Điều 47/BLHS; Điều 106/BLTTHS

+ Đối với các vật chứng: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T22. Bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định cùng phong bì, giấy gói cũ; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu F2. Bên trong chứa 03 (ba) bật lửa gas màu đỏ hồng, 06 (sáu) mảnh giấy tráng kim loại màu trắng bạc thu giữ tại trong bếp nhà Hà Văn Hưng; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu F3. Bên trong chứa 02 (hai) bật lửa gas màu đỏ hồng, 01 (một) mảnh giấy tráng kim loại màu trắng bạc, thu giữ tại trong bếp nhà Hà Văn Hưng; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T2. Bên trong chứa phong bì, vỏ bao thuốc lá, giấy gói cũ; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T4. Bên trong chứa phong bì, giấy gói cũ; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T6. Bên trong phong bì chứa phong bì, vỏ bao thuốc lá, giấy gói cũ; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T8. Bên trong chứa phong bì, giấy gói cũ; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T10. Bên trong phong bì chứa phong bì, vỏ bao thuốc lá, giấy gói cũ. Xét thấy không có giá trị, cần tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với 01 (một) điện thoại di động có bàn phím màu đen, mặt trước in chữ "VIETTEL" thu giữ của Ma Văn Cung; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng màu xanh đen, phía sau in chữ "INFINIX", có ốp bằng nhựa dẻo, thu giữ của Hà Văn Hưng, trong quá trình điều tra và tại phiên toà xác định các bị cáo đã sử dụng 02 chiếc điện thoại này để liên lạc mua bán trái phép chất ma tuý (tình trạng: đều đã qua sử dụng) do đó cần tịch thu, hoá giá sung công quỹ Nhà nước. Đối với chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng màu đen bạc, phía sau in chữ "IPHONE", có ốp bằng nhựa dẻo trong suốt thu giữ của Ma Văn Cung xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo Cung, nhưng tiếp tục tạm giữ để thi hành án đối với phần thi hành án dân sự của Ma Văn Cung.

+ Trả lại cho bị cáo Hà Văn Hưng số tiền thu, giữ là 930.000đ (Chín trăm ba mươi nghìn đồng) do xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng tiếp tục tạm giữ để thi hành án đối với phần thi hành án dân sự của Hà Văn Hưng;

+ Số tiền thu, tạm giữ của bị cáo Ma Văn Cung là 3.420.000đ (Ba triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng), trong đó có 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) do bị cáo phạm tội mà có, 20.000đ (Hai mươi nghìn đồng) là tiền do các bị cáo sử dụng làm công cụ để chia ma tuý, nên tịch thu xung công quỹ Nhà nước. Trả lại cho bị cáo Ma Văn Cung số tiền còn lại là 3.100.000đ (Ba triệu một trăm nghìn đồng) do xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng tiếp tục tạm giữ để thi hành án đối với phần thi hành án dân sự của Ma Văn Cung.

+ Đối với các tài sản: 01 (một) điện thoại di động có bàn phím màu xanh đen, mặt sau in chữ "MASSTEL", thu giữ của Lộc Xuân Bách; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng màu đỏ đen, phía sau in chữ "VIVO", thu giữ của Ma Văn Dựng; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng màu xanh đen, phía sau in chữ "VIVO", có ốp bằng nhựa dẻo, thu giữ của Hoàng Văn Sáng; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng màu đen, phía sau in chữ "OPPO", có ốp bằng nhựa dẻo, thu giữ của Triệu Văn Hiệp. Tình trạng: đều đã qua sử dụng, xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, tại quá trình điều tra và đơn xin xét xử vắng mặt những người này đều có đề nghị được trả lại những tài sản này. Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu đỏ đen, biển số đăng ký 20E1-091.85 do Ma Văn Cung giao nộp và số tiền 19.000.000đ (Mười chín triệu đồng), thu giữ của Ma Văn Cung. Xét thấy, anh Ma Văn Giáp là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe mô tô và số tiền 19.000.000đ (Mười chín triệu đồng) có nguồn gốc từ việc bị cáo Ma Văn Cung bán dê của anh Giáp mà có, tại cơ quan điều tra và tại phiên toà Anh Ma Văn Giáp đề nghị được trả những tài sản này. Xét thấy những tài sản này không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, do đó việc trả lại những tài sản này cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp.

. Về các vấn đề khác:

- Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo Ma Văn Cung tại khu vực Cổng cơ sở điều trị Methadol huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn (nay thuộc xã Chợ Đồn, tỉnh Thái Nguyên) vào ngày 22/12/2024 với giá 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Cung không biết tên, tuổi, địa chỉ của người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra, xác minh. Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với Ma Văn Giáp là chủ sở hữu chiếc xe mô tô màu đỏ đen, nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, biển số đăng ký 20E1-091.85 do Ma Văn Cung giao nộp, quá trình điều tra xác định, Giáp hoàn toàn không biết việc Ma Văn Cung (bố đẻ của Giáp) sử dụng xe mô tô của mình đi mua ma tuý ngày 22/12/2024 nên không xem xét xử lý đối với Giáp là phù hợp.

- Đối với hành vi tàng trữ 0,03g (Không phẩy không ba gam) chất ma túy, loại heroine của Triệu Văn Hiệp ngày 22/12/2024 tại thôn Nà Thẩu, xã Đồng Phúc, tỉnh Thái Nguyên không đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự, tuy nhiên hành vi này là hành vi vi phạm hành chính nên Cơ quan CSĐT chuyển toàn bộ hồ sơ, tài liệu liên quan đến Cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý theo quy định là phù hợp.

- Đối với hành vi tàng trữ 0,06g (Không phẩy không sáu gam) chất ma túy, loại heroine của Ma Văn Dựng, Hoàng Văn Sáng ngày 22/12/2024 tại thôn Nà Thẩu, xã Đồng Phúc, tỉnh Thái Nguyên không đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự, tuy nhiên hành vi này là hành vi vi phạm hành chính nên Cơ quan CSĐT chuyển toàn bộ hồ sơ, tài liệu liên quan đến Cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý theo quy định là phù hợp.

- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lộc Xuân Bách ngày 22/12/2024 tại thôn Nà Thẩu, xã Đồng Phúc, tỉnh Thái Nguyên không cấu thành tội phạm. Tuy nhiên hành vi này là hành vi vi phạm hành chính nên Cơ quan CSĐT chuyển toàn bộ hồ sơ, tài liệu liên quan đến Cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý theo quy định là phù hợp.

- Đối với hành vi Mùng Ngọc Ánh đến nhà Hà Văn Hưng để hỏi mua ma túy về sử dụng, tuy nhiên chưa kịp gặp Hưng và hỏi mua thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, Mùng Ngọc Ánh chưa thực hiện hành vi phạm tội nên cơ quan CSĐT không xem xét xử lý là phù hợp.

. Về án phí: Các bị cáo cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí xét thấy cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

. Về quan điểm truy tố của đại diện Viện Kiểm sát và quan điểm bào chữa của người bào chữa: Xét thấy quan điểm truy tố của Viện Kiểm sát và quan điểm bào chữa của người bào chữa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc khi quyết định hình phạt cũng như các vấn đề khác của vụ án. Đối với hình phạt bổ sung, người bào chữa cho các bị cáo đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy: Các Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tuy nhiên hành vi của các bị cáo có mục đích lợi nhuận, lại diễn ra nhiều lần, hơn nữa các bị cáo chỉ có đơn xin miễn án phí không xin miễn hình phạt bổ sung, mặt khác với tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung nhằm răn đe, phòng ngừa chung nên không chấp nhận đề nghị của người bào chữa.

. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố:

[1.1]. Bị cáo Ma Văn Cung phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

[1.2]. Bị cáo Hà Văn Hưng phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

[2.1]. Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58/Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Ma Văn Cung 08 (Tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 23/12/2024. Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Ma Văn Cung 5.000.000đ (Năm triệu đồng) để sung công quỹ Nhà nước.

[2.2]. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58/Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hà Văn Hưng 07 (Bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 256; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51/Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hà Văn Hưng 07 (Bảy) năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng Điều 55/Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Hà Văn Hưng phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 14 (Mười bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 23/12/2024.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251/Bộ luật hình sự. Phạt tiền bị cáo Hà Văn Hưng 5.000.000đ (Năm triệu đồng) để sung công quỹ Nhà nước.

3. Về vật chứng trong vụ án: Áp dụng Điều 47/BLHS; Điều 106/BLTTHS

- Tịch thu, tiêu huỷ những vật chứng cấm lưu hành, vật chứng không có giá trị sử dụng gồm: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T22. Bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định cùng phong bì, giấy gói cũ; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu F2. Bên trong chứa 03 (ba) bật lửa gas màu đỏ hồng, 06 (sáu) mảnh giấy tráng kim loại màu trắng bạc thu giữ tại trong bếp nhà Hà Văn Hưng; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu F3. Bên trong chứa 02 (hai) bật lửa gas màu đỏ hồng, 01 (một) mảnh giấy tráng kim loại màu trắng bạc, thu giữ tại trong bếp nhà Hà Văn Hưng; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T2. Bên trong chứa phong bì, vỏ bao thuốc lá, giấy gói cũ; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T4. Bên trong chứa phong bì, giấy gói cũ; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T6. Bên trong phong bì chứa phong bì, vỏ bao thuốc lá, giấy gói cũ; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T8. Bên trong chứa phong bì, giấy gói cũ; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T10. Bên trong phong bì chứa phong bì, vỏ bao thuốc lá, giấy gói cũ.

- Tịch thu hoá giá, sung công quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động có bàn phím màu đen, mặt trước in chữ "VIETTEL" thu giữ của Ma Văn Cung; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng màu xanh đen, phía sau in chữ "INFINIX", có ốp bằng nhựa dẻo, thu giữ của Hà Văn Hưng, tình trạng: đều đã qua sử dụng.

- Trả lại cho bị cáo Hà Văn Hưng số tiền thu, giữ là 930.000đ (Chín trăm ba mươi nghìn đồng) do xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng tiếp tục tạm giữ để thi hành án đối với phần thi hành án dân sự của Hà Văn Hưng;

- Số tiền thu, tạm giữ của bị cáo Ma Văn Cung là 3.420.000đ (Ba triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng), trong đó có 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) do bị cáo phạm tội mà có, 20.000đ (Hai mươi nghìn đồng) là tiền do các bị cáo sử dụng làm công cụ để chia ma tuý, nên tịch thu xung công quỹ Nhà nước. Trả lại cho bị cáo Ma Văn Cung số tiền còn lại là 3.100.000đ (Ba triệu một trăm nghìn đồng) do xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng tiếp tục tạm giữ để thi hành án đối với phần thi hành án dân sự của Ma Văn Cung.

- Trả lại chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng màu đen bạc, phía sau in chữ "IPHONE", có ốp bằng nhựa dẻo trong suốt thu giữ của Ma Văn Cung, nhưng tiếp tục tạm giữ để thi hành án đối với phần thi hành án dân sự của Ma Văn Cung.

- Trả lại cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan những tài sản, đồ vật sau: Trả lại cho Lộc Xuân Bách 01 (một) điện thoại di động có bàn phím màu xanh đen, mặt sau in chữ "MASSTEL"; Trả lại cho Ma Văn Dựng 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng màu đỏ đen, phía sau in chữ "VIVO"; Trả lại cho Hoàng Văn Sáng 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng màu xanh đen, phía sau in chữ "VIVO", có ốp bằng nhựa dẻo; Trả lại cho Triệu Văn Hiệp 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng màu đen, phía sau in chữ "OPPO", có ốp bằng nhựa dẻo. Tình trạng: đều đã qua sử dụng;

- Trả lại cho Ma Văn Giáp: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu đỏ đen, biển số đăng ký 20E1-091.85 và số tiền 19.000.000đ (Mười chín triệu đồng).

(Tình trạng, số lượng vật chứng theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thái Nguyên và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 9, tỉnh Thái Nguyên).

4. Án phí: Áp dụng Điều 136/BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Ma Văn Cung và Hà Văn Hưng.

Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ