vanban.org

Bản án 10/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 9 - Nghệ An, tỉnh Nghệ An Tuyên án 15/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn M đã phạm vào: “Tội tàng trữ hàng cấm”.

Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 191; điểm s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn M 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án hình sự thụ lý số 10/2025/HSST ngày 05 tháng 3 năm 2025 - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn M đã phạm vào: “Tội tàng trữ hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ANH SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH NGHỆ AN
Bản án số: 10/2025/HS-ST
Ngày: 15/4/2025

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ANH SƠN – TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Dân

Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Huyền, bà Phạm Thị Hồng Thảo

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Quỳnh – Kiểm sát viên.

Ngày 15/4/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm trực vụ án hình sự thụ lý số 10/2025/HSST ngày 05 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn M; sinh ngày: 27/7/1990; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn 8, xã L, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do (trước phạm tội công tác tại Biên phòng tỉnh Nghệ An); Trình độ học vấn: 12/12; Họ và tên cha: Nguyễn Văn Th (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Kh - Sinh năm: 1951; mẹ của bị cáo hiện trú tại: thôn 8, xã L, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An; Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1991; con: Có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2023; Anh chị em ruột: có 07 người, bị cáo là con thứ 6 trong gia đình; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 24/12/2025 đến ngày 30/12/2025, hiện đang tại ngoại và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú - Bị cáo có mặt.

Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Duy N, sinh năm 1994

Địa chỉ: Thôn 6, xã L, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An – Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng đầu tháng 8 năm 2024 (không nhớ ngày cụ thể) Nguyễn Văn M đang ở nhà thì Nguyễn Duy N đi bộ đến nhà M chơi. Quá trình nói chuyện Nam có nhờ M mua giúp cho Nam 05 (năm) cối pháo hoa nổ để nổ vào dịp tết nguyên đán, M đồng ý và nói có gì sẽ báo lại Nam. Do đã có quá trình công tác tại Đồn biên phòng cửa khẩu quốc tế N, nên M biết tại đường mòn lên cổng trời thuộc bản T, xã N, huyện Kỳ Sơn có người thường xuyên bán pháo hoa nổ. Sau đó vài ngày sau M chuẩn bị tiền mặt rồi đi bộ đến khu vực đường mòn lên cổng trời để tìm mua pháo. Đến trưa cùng ngày, M đi đến khu vực bán pháo và thấy có một người đàn ông đang đứng ở đó. M có hỏi người đàn ông có quen biết ai bán pháo hoa nổ không thì người đàn ông này trả lời là: “không”. Tuy nhiên, đứng nói chuyện một lúc thì người đàn ông này nói: “Có lấy pháo hoa nổ loại 36 quả không? Giá 350.0000 đồng/một cối”, M đáp: “Anh bán cho em 40 cối loại 36 quả đi”, người đàn ông này đồng ý và nói M đứng chờ. Một lúc sau, người đàn ông này quay lại và nói với M đi theo mình, cả hai đi bộ khoảng 50m thì người đàn ông đó chỉ cho M 02 (hai) thùng cát tông màu vàng và nói: “Pháo của em đó, em qua xem đi”. M đi đến mở 02 thùng và đếm được 40 cối pháo hoa nổ (Trong đó có 05 cối pháo có kích thước nhỏ hơn so với số pháo còn lại). M thanh toán cho người đàn ông số tiền 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng). Sau đó, M đón xe khách giường nằm (không nhớ tên nhà xe, biển kiểm soát) và đưa 02 thùng cát tông có chứa 40 cối pháo hoa nổ đem về nhà tại thôn 8, xã L, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An rồi cất dấu dưới giường trong phòng ngủ.

Đến chiều ngày 24/12/2024, M đi bộ sang nhà anh Nam thông báo với anh Nam tối sang nhà mà lấy pháo. Khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, anh Nam đi bộ đến nhà Nguyễn Văn M, thì được M lấy ra 05 cối pháo (Loại kích thước nhỏ hơn) cho vào trong 01 bì xác rắn màu xanh và đưa cho Nguyễn Duy N. N đưa cho M số tiền 1.750.000 đồng là số tiền nhờ mua pháo. Số pháo còn lại (35 cối, có kích thước lớn hơn) thì được M cất dấu nhằm mục đích để sử dụng vào dịp tết nguyên đán. Sau khi lấy được pháo, Nam đi bộ về nhà mình, khi đi đến đường liên thôn thuộc địa phận thôn 6, xã L, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An, lúc này khoảng 22 giờ 10 phút ngày 24/12/2024, thì bị tổ công tác của Công an huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An phát hiện, lập biên bản thu giữ 05 (năm) khối hình hộp chữ nhật, bên ngoài có nhiều hoa văn, chữ nước ngoài, có kích thước (14x14x10) cm (Nghi là pháo). Đến 23 giờ 10 phút ngày 24/12/2024, Nguyễn Văn M đến Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An để đầu thú và giao nộp số tiền 1.750.000đ (Một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Văn M, Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ được 35 khối hình hộp chữ nhật, bên ngoài có các hoa văn chữ nước ngoài, có kích thước (15x15x12,5) cm (Nghi là Pháo nổ).

Ngày 25/12/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Anh Sơn đã thành lập Hội đồng mở niêm phong xác định trọng lượng và lấy mẫu giám định đối với số vật chứng thu được của Nguyễn Duy N và Nguyễn Văn M:

Đối với vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn M được niêm phong trong 02 thùng cát tông màu vàng, cụ thể như sau:

- Trong thùng cát tông thứ nhất có 20 khối hình chữ nhật, có mặt ngoài in chữ nước ngoài, nhiều màu sắc, kích thước (15x15x12,5)cm, bên trong mỗi khối có 36 (ba mươi sáu) thỏi hình trụ tròn (nghi pháo nổ); sau khi loại bỏ thùng cát tông, tiến hành cân có khối lượng 32,02 kg (Ba mươi hai, phẩy không hai ki lô gam). Hội đồng đã lấy ngẫu nhiên 05 khối hình hộp chữ nhật trong tổng số 20 khối hình hộp kích thước (15x15x12,5) cm có khối lượng 8,027 kg (ký hiệu M1) để gửi đi giám định.

- Trong thùng cát tông thứ hai có 15 khối hình chữ nhật, có mặt ngoài in chữ nước ngoài, nhiều màu sắc, kích thước (15x15x12,5)cm, bên trong mỗi khối có 36 (ba mươi sáu) thỏi hình trụ tròn (nghi pháo nổ). Sau khi loại bỏ thùng cát tông, tiến hành cân có khối lượng 24,108 kg (Hai mươi tư, phẩy một trăm linh tám ki lô gam). Hội đồng đã lấy ngẫu nhiên 05 khối hình hộp chữ nhật trong tổng số 15 khối hình hộp kích thước (15x15x12,5) cm có khối lượng 8,060 kg (ký hiệu M2) để gửi đi giám định.

- Đối với vật chứng thu giữ của Nguyễn Duy N được niêm phong trong thùng cát tông màu vàng, gồm có: 05 (năm) khối hình chữ nhật giống nhau, có mặt ngoài in chữ nước ngoài, nhiều màu sắc, kích thước mỗi khối (14x14x10) cm, bên trong mỗi khối có 36 (ba mươi sáu) thỏi hình trụ tròn (nghi pháo nổ); sau khi bỏ loại bỏ thùng cát tông, tiến hành cân có khối lượng 5,833 kg (Năm phẩy tám trăm ba mươi ba ki lô gam). Hội đồng đã lấy ngẫu nhiên 02 khối hình hộp chữ nhật trong tổng số 05 khối hình hộp kích thước (14x14x10) cm có khối lượng 2,323 kg (Hai phẩy ba trăm hai mươi ba ki lô gam) (ký hiệu M3) để gửi đi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 70/KL-KTHS(Đ2-CN) ngày 30/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An xác định: “Các mẫu vật (ký hiệu M1, M2) thu giữ của Nguyễn Văn M; Mẫu vật ký hiệu M3 thu giữ của Nguyễn Duy N đều là pháo, đều thuộc loại pháo nổ”. Mẫu cần giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

+ Thu giữ số pháo gồm 40 khối hình chữ nhật giống nhau, có mặt ngoài in chữ nước ngoài, nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có 36 (ba mươi sáu) thỏi hình trụ tròn, có khối lượng 61,961 kg (Sáu mươi mốt, phẩy chín trăm sáu mươi mốt ki lô gam); Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã lấy 12 khối hình hộp chữ nhật có khối lượng 18,41 kg đi giám định. Còn lại 28 khối hình hộp chữ nhật có khối lượng 43,551 kg được niệm phong, hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng Công an Nghệ An.

+ Số tiền 1.750.000đ (Một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) Nguyễn Văn M giao nộp do phạm tội mà có. Hiện đang được niêm phong, bảo quản tại Kho bạc nhà nước huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An nay là Phòng giao dịch số 22 thuộc Kho bạc Nhà nước khu vực X.

Cáo trạng số 13/Ctr – VKS - AS ngày 04/3/2025, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về “Tội tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại khoản 2 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An giữ nguyên quyết định truy tố, Viện kiểm sát đề nghị:

Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 191; điểm s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 2 năm 06 tháng đến 03 năm năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm kể từ ngày tuyên án.

Tại phiên toà bị cáo không tranh luận gì với kiểm sát viên

Lời nói sau cùng, bị cáo trình bày: Hành vi của bị cáo là trái pháp luật, bị cáo rất ăn năn, hối cải, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều thực hiện đúng pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố, bị cáo thừa nhận:

Với mục đích mua pháo về để sử dụng và được Nguyễn Duy N là người quen biết nhờ mua hộ. Nên vào khoảng tháng 8/2024, Nguyễn Văn M đã đến khu vực cổng trời thuộc bản T, xã N, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An mua của người đàn ông không quen biết 40 khối pháo nổ, có khối lượng 61,961 kg, với giá 14.000.000 đồng rồi đưa về nhà cất dấu. Đến ngày 24/12/2024, M nói Nam đến nhà lấy 05 khối pháo nổ với giá 1.750.000 đồng. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, khi Nam đang đưa pháo về đến đường liên thôn thuộc thôn 06, xã L, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An thì bị Công an huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An phát hiện, thu giữ 05 khối pháo nổ có khối lượng 5,833 kg (Năm phẩy tám trăm ba mươi ba ki lô gam). Đến 23 giờ 10 phút ngày 24/12/2024, Nguyễn Văn M đến Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An để đầu thú khai nhận hành vi tàng trữ trái phép pháo nổ.

Hội đồng xét xử kết luận: Bị cáo Nguyễn Văn M đã phạm vào “Tội tàng trữ hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 191 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hại cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, tàng trữ hàng hóa mà Nhà nước cấm lưu hành, cấm sử dụng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội. Do đó cần xử lý nghiêm để răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo được tặng huy chương chiến sỹ vẻ vang, trong quá trình công tác có nhiều thành tích khác; có bố đẻ được tặng thưởng huân chương kháng chiến, đầu thú. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS.

Từ việc đánh giá về tính chất mức độ của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xét thấy:

Nguyễn Văn M đã từng công tác trong quân đội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt. Vì vậy, chưa cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương một thời gian cũng đủ điều kiện để răn đe và giáo dục, thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước.

Trong vụ án này có đối tượng “người đàn ông” có liên quan đến vụ án nhưng bị cáo không nhớ được đặc điểm nhận dạng nên không có căn cứ để xử lý.

Trong vụ án này, Nguyễn Duy N đã vó hành vi tàng trữ 5,833 kg (Năm phẩy tám trăm ba mươi ba ki lô gam) pháo nổ, nhưng do khối lượng pháo chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự. Nên ngày 02/01/2025, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02/QĐ-XPHS, với mức phạt tiền 15.000.000 đồng, Nguyễn Duy N đã chấp hành xong ngày 06/01/2025.

Về xử lý vật chứng:

Số pháo nổ thu giữ gồm 40 khối hình chữ nhật giống nhau, có mặt ngoài in chữ nước ngoài, nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có 36 (ba mươi sáu) thỏi hình trụ tròn, có khối lượng 61,961 kg (Sáu mươi mốt, phẩy chín trăm sáu mươi mốt ki lô gam); Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã lấy 12 khối hình hộp chữ nhật có khối lượng 18,41 kg đi giám định (đã sử dụng hết mẫu vật giám định). Còn lại 28 khối hình hộp chữ nhật có khối lượng 43,551 kg là tài sản Nhà nước cấm lưu hành, sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Số tiền 1.750.000đ (Một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) Nguyễn Văn M giao nộp do phạm tội mà có. Hiện đang được niêm phong, bảo quản tại Kho bạc nhà nước huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An nay là Phòng giao dịch số 22 thuộc Kho bạc Nhà nước khu vực X nên tịch thu sung công quỹ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1/ Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn M đã phạm vào: “Tội tàng trữ hàng cấm”.

Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 191; điểm s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn M 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú quản lý, giao dục trong thời gian thử thách.

2/ Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 28 khối hình hộp chữ nhật giống nhau, có mặt ngoài in chữ nước ngoài, nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có 36 (ba mươi sáu) thỏi hình trụ tròn. Tổng khối lượng 43,551 kg. Vật chứng hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Công an tỉnh Nghệ An.

Tịch thu sung công quỹ số tiền 1.750.000đ (Một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) Nguyễn Văn M giao nộp. Hiện đang được niêm phong, bảo quản tại Kho bạc nhà nước huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An nay là Phòng giao dịch số 22 thuộc Kho bạc Nhà nước khu vực X.

3/Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điều 23 Nghị quyết 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc các bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

4/ Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ