- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D bị truy tố theo điểm c, đ khoản 2 Điều 134 BLHS - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (đ…"
- Tòa quyết gì? I.Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7- ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2025/HS – ST Ngày 28/8/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
-Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Tuân.
-Các Hội thấm nhân dân: Ông Y Nik ÊBan và ông Nguyễn Thế Hằng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Quốc Nam, chức vụ: Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- Đắk Lắk: Ông Lê Viết Bình,
chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo.
Họ và tên: Nguyễn Văn D; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 17 tháng 02 năm 1995, tại: tỉnh Hải Dương; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn H, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (nay là Thôn H, xã E, tỉnh Đắk Lắk). Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 7/12; Tiền án, tiền sự: Không; Con ông: Nguyễn Văn K, sinh năm 1973 (đã chết); Con bà: Phan Thị Y, sinh năm 1974; Hiện đang trú tại: Thôn H, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (nay là Thôn H, xã E, tỉnh Đắk Lắk). Hiện bị cáo đang chung sống như vợ chồng với chị H’ T Niê, sinh năm 2005 và có 01 con chung sinh năm 2025.
Nhân thân: Tại bản án hình sự phúc thẩm số 350/2015/HSPT ngày 26/8/2015 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử 01 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong hình phạt về địa phương sinh sống từ ngày 01/12/2016.
Ngày 27/11/2020 bị Toà án nhân dân huyện Ea Kar áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng. Đã chấp hành xong ngày 03/9/2022.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/5/2025, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. (Có mặt tại phiên toà)
- Bị hại: Cháu H’ H Niê, sinh năm 2023.
- Đại diện cho bị hại cháu H’ H Niê có chị H’ T Niê, sinh năm 2005. Địa chỉ: Thôn H, xã E, tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Phan Thị Y, sinh năm 1974 . .
Địa chỉ: Thôn H, xã E, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Năm 2023, Nguyễn Văn D (trú tại thôn H, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk) sống chung như vợ chồng với chị H' T Niê (trú tại Buôn T, xã Đ, huyện C, tỉnh Đăk Nông). Đến tháng 11/2024, chị H' T đưa cháu H' H Niê (sinh năm 2023, là con riêng của chị H’ T) về sống cùng với Nguyễn Văn D tại thôn H, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (nay là thôn H, xã E, tỉnh Đắk Lắk). Khoảng 08h00’ngày 27/12/2024, chị H’ T đi công việc, còn Nguyễn Văn D ở nhà thì cháu H’ H khóc đòi theo chị H’ T. Lúc này, Nguyễn Văn D ở cửa bếp hút thuốc còn cháu H’ H đang khóc đứng cạnh nên Nguyễn Văn D bực tức dùng điếu thuốc lá đang cháy châm vào má bên phải, má bên trái và mông trái của cháu H’ H gây thương tích. Sau đó, đến khoảng trưa cùng ngày do bực tức cháu H’ H khóc không ăn cơm, nên Nguyễn Văn D đã dùng cành cây cà phê khô sần sùi, dài khoảng 50cm đánh vào mông phải, đùi phải của cháu H’ H gây thương tích.
Khoảng 20h00’ngày 31/12/2024, chị H’ T cho cháu H' H ăn cơm xong rồi lên giường ngủ. Đến 23h00’cùng ngày, chị H' T gọi cháu H' H dậy uống sữa nhưng không thấy cháu H' H trả lời nên vào giường kiểm tra thì thấy cháu H' H nằm im không cử động; thấy vậy, H’ T gọi Nguyễn Văn D vào kiểm tra thì thấy cháu H' H người tím tái nên gọi xe taxi đưa cháu H' H đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, khi đến nơi thì cháu H' H đã tử vong nên không làm thủ tục nhập viện. Sau đó D và chị H' T thuê xe taxi đưa cháu H' H về nhà mẹ đẻ của H’ T là bà H' L Niê (trú tại buôn T, xã Đ, huyện C, tỉnh Đắk Nông) để làm thủ tục mai táng cho cháu. Lúc này bà H' L thấy trên cơ thể cháu H' H có nhiều vết thương ở đầu, lưng, bụng chân và tay nên bà H' L đã trình báo Cơ quan Công an để xử lý.
Tại Bản kết luận giám định độc chất số 206/286/25/KLGĐĐC-PYQG ngày 17/01/2025 của P tại thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Không tìm thấy các chất độc trong mẫu phủ tạng được gửi giám định.
Tại bản kết luận giám định mô bệnh học số 06/KLMBH-PY ngày 21/01/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ, kết luận tử thi H' H Niê có các dấu hiệu chính là: Viêm phổi – Phù phổi; Sung huyết đa tạng.
Tại Bản kết luận giám định tử thi số 24/KLGĐTT-PY ngày 24/01/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ, kết luận nguyên nhân chết của H' H Niê là do: Phù phổi kẽ (Nghi:chILD)/ Nhiều vết thương nông, vết bỏng nông.
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số 15/KLTg-THS-PY ngày 26/3/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích của H’ H Niê qua hồ sơ là 31% gồm:
- 03 vết rách da vùng trán phải: Mỗi vết 03 %;
- Nhiều vết trầy xước, khô da... dạng chà sát, mài mòn, nhiều hình dạng vùng quanh rốn và hố chậu phải ..., trong diện (10 x 6)cm, tỷ lệ 3%;
- 05 vết trầy xước, khô da... dạng mài mòn vùng lưng, lần lượt là: (0,4 x 0,2)cm; (0,1 x 0,2)cm; (0,2 x 0,1)cm; (1 x 0,5)cm; (0,5 x 0,5)cm, tỷ lệ 1%;
- Nhiều vết trầy xước mặt sau mông phải và đùi phải, có nhiều kích thước khác nhau từ 0,1 đến 0,5cm, tỷ lệ 3%;
- Nhiều vết xây xước, rách da đã khô với nhiều kích thước khác nhau vùng mặt trước cằng - bàn chân trái, tỷ lệ 3%;
- Nhiều vết xây xước, rách da đã khô mặt sau căng - bàn chân trái, tỷ lệ 3%;
- Nhiều vết xây xước, rách da đã khô với nhiều kích thước khác nhau vùng mặt trước căng - bàn chân phải, tỷ lệ 3%;
- Nhiều vết xây xước, rách da đã khô với nhiều kích thước khác nhau vùng mặt sau cẳng - bàn chân phải, tỷ lệ 3%;
- Vết cháy xém, khô da vùng má bên phải, kích thước (3 x 1)cm, tỷ lệ 6%;
- 02 vết cháy xém khô da dạng bầu dục (một vết đang bong vảy) vùng má bên trái; Vết cháy xém khô da vùng mông trái, kích thước (1,5 x 0,6)cm; Nhiều tổn thương khô da dạng cháy xém vùng mặt sau mông phải và đùi phải; vùng mặt trước, mặt sau cẳng
- bàn chân trái; vùng mặt trước, mặt sau căng - bàn chân phải, tỷ lệ 2%;
- Các vết sưng, bầm tím trên cơ thể; vết xây xước, sưng nề vùng đỉnh chẩm phải, kích thước (7 x 6)cm; các vết xây xước, rách da rải rác vùng thái dương và mặt trước tai trái; vết trược da nông nằm chéo vùng ngực trái... trong Bảng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích không có đánh giá tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể hay tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 0%.
Vật tác động và cơ chế hình thành thương tích:
- Các vết cháy xém, khô da… do tác động trực tiếp của nguồn nhiệt khô có nhiệt độ cao.
- Các vết sưng, bầm tím. Xây xước da…do tác động trực tiếp của vật tày cứng, vật tày có cạnh cứng; và tác động có tính chà sát, mài mòn với vật tày, cứng, bề mặt không bằng phẳng.
Ngày 17/6/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ có Công văn gửi Trung tâm pháp y tỉnh Đ giải thích kết luận giám định về thương tích của H' H Niê. Tại Công văn số 19/CV-TTPY ngày 19/6/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ trả lời như sau:
- Các thương tích của H' H Niê là các vết cháy xém, khô da...và các vết thương bầm tím, xây xước rách da...nông, có kích thước nhỏ (và có thời gian hình thành khác nhau), nếu không được cấp cứu cũng hiếm khi có khả năng gây chết người;
- 02 vết cháy xém khô da dạng bầu dục (một vết đang bong vảy) vùng má bên trái, tỷ lệ 1%; Vết cháy xém khô da vùng mông trái, kích thước (1,5x0,6)cm, tỷ lệ 1%.
Bản Cáo trạng số 06/CT - VKS ngày 05 tháng 8 năm 2025, của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Đắk Lắk truy tố Nguyễn Văn D về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c, đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Phần tranh luận
Tại phiên tòa Kiểm sát viên sau khi phân tích các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ, lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm c, đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận việc bị cáo Nguyễn Văn D đã tác động bồi thường cho chị H’ T Niê một phần hậu quả với số tiền là 5.000.000 đồng, chị H’ T Niê không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản chi phí nào khác, nên trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết tại phiên toà.
Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra đã thu giữ 01 phần lon sữa kim loại đừng nhiều tàn thuốc lá và 01 vỏ bao thuốc Jét; 01 ly thủy tinh chứa dịch màu vàng trong, dưới là cặn bột màu trắng; 01 hộp giấy ghi chữ “CALCI SUNETC” bên trong có 03 cái kéo; 01 áo trẻ em màu cam, 01 chiếc tất màu xám và 01 khăn trẻ em; 01 đầu khò ga đã qua sử dụng nhãn hiệu “NaMilux TS2022RN", vỏ nhựa của đèn khò có màu nâu nhạt, núm chỉnh lửa có màu cam, một phần vỏ nhựa đã bị nóng chảy, đầu đèn khò bằng kim loại có bám dính nhiều chất màu đen; 01 thanh hình trụ tròn (cần câu cá) có đường kính hai đầu lần lượt là 0,9 cm và 0,6cm. Một đầu của thanh trụ tròn được gắn một ống kim loại hình tròn dài 5cm, đường kính 01cm. Các phần còn lại của thanh trụ tròn được sơn màu xanh, đã bị xây xước lộ phần lõi màu trắng bên trong. Đây là những vật không liên quan đến vụ án, vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy.
Bị cáo Nguyễn Văn D, đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- Đắk Lắk, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn D khai: Do bức xúc trong cuộc sống, nên vào khoảng 08h00’ ngày 27/12/2024 khi chỉ có bị cáo và cháu H’ H Niê con riêng của H’ T Niê ở nhà, thấy cháu H’ H khóc bị cáo đã dùng điếu thuốc lá đang cháy châm vào má bên phải, bên trái và mông trái cháu H’ H Niê gây thương tích. Đến trưa cùng ngày thấy cháu H’ H Niê khóc không ăn cơm, bị cáo lại tiếp tục có hành vi dùng cành cây cà phê khô dài khoảng 50cm sần sùi đánh vào mông phải, đùi phải của cháu H’ H Niê gây thương tích. Tổng tỷ lệ thương tích của cháu H’ H Niê qua giám định 11%
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với thương tật trên cơ thể của bị hại, cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở pháp lý để kết luận: Sáng ngày 27/12/2024 bị cáo Nguyễn Văn D có hành vi dùng điếu thuốc lá đang cháy châm vào má bên phải, bên trái và mông trái cháu H’ H Niê gây thương tích 08% và trưa cùng này bị cáo lại tiếp tục có hành vi dùng cành cây cà phê khô đánh vào mông phải, đùi phải của cháu H’ H Niê gây thương tích 03%. Mặc dù bị cáo gây thương tích cho cháu H’ H Niê vào sáng và trưa cùng ngày 27/12/2024 đều dưới 11%, nhưng hành vi dùng điếu thuốc lá đang cháy, cành cà phê gây thương tích cho cháu H’ H Niê, tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội cháu H’ H Niê mới 18 tháng tuổi là thuộc trường hợp phạm tội đối với người dưới 16 tuổi…không có khả năng tự vệ; dùng hung khí nguy hiểm; có tính chất côn đồ. Do đó, hành vi phạm tội của Nguyễn Văn D đã cấu thành tình tiết định khung tăng nặng về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c, đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tại điểm c, đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng……..hung khí nguy hiểm…
c) Đối với người dưới 16 tuổi… hoặc người khác không có khả năng tự vệ
i) Có tính chất côn đồ”
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
c) Phạm tội 02 lần trở lên;
đ) Gây thương tích hoặc tổn hại sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%
[3.] Xét tính chất của vụ án cũng như mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, bị cáo phải biết và nhận thức được rằng, sức khỏe của con người nói chung là vốn quý, bất khả xâm phạm được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật đặc biệt là trẻ em thì bị trừng trị nghiêm khắc, thích đáng. Dù nhận thức được điều đó, nhưng với ý thức coi thường pháp luật, coi thường tính mạng, sức khoẻ của người khác, chỉ vì cháu H’ H Niê (là con của H’ T Niê) còn nhỏ, khóc đòi theo mẹ, đáng lẽ ra bị cáo dành tình yêu thương quan tâm, chăm sóc, dỗ dành cháu thì không có chuyện đáng tiếc xảy ra, nhưng với bản tính côn đồ bị cáo đã không làm được điều đó, nên khi thấy cháu H’ H Niê khóc bị cáo không dỗ dành mà lại có hành vi dùng điếu thuốc lá đang cháy, có nhiệt độ cao, rất dễ gây nên thương tích khi châm vào vùng da, thịt má trái, phải và vùng mông trái của cháu H’ H, trong khi không có người lớn mà bản thân cháu đang còn nhỏ và không có khả năng tự vệ bản thân, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Mặc dù bị cáo gây cho cháu H’ H với tỷ lệ thương tích không đáng kể, nguyên nhân cháu H’ H Niê chết không phải do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo đối cháu H’ H phải bị lên án và xử lý bằng pháp luật hình sự là thoả đáng, mới mong giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích.
[4] Khi quyết định hình phạt cần xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ để lượng hình.
Bị cáo có nhân thân xấu, tại bản án hình sự phúc thẩm số 350/2015/HHSPT ngày 26/8/2015 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử 01 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngày 27/11/2020 bị Toà án nhân dân huyện Ea Kar áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với hạn 24 tháng. Mặc dù bị cáo đã chấp hành xong bản án và các quyết định của bản án, thuộc trường hợp đương nhiên xoá án tích và không còn tiền sự, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tự tu dưỡng, rèn luyện bản thân để trở thành công dân có ích cho xã hội mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, chứng tỏ bị cáo không ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình gây ra, cần phải xử lý bị cáo với mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài là cần thiết. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Sau khi phạm tội bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho đại diện của bị hại một phần chi phí, được đại diện hợp pháp bị hại làm đơn bãi nại cho bị cáo, hoàn cảnh gia đình bị cáo có những khó khăn nhất định có con nhỏ. Cần áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính khoan hồng của pháp luật để cho bị cáo cải tạo tốt, sớm hoà nhập cộng đồng trở thành công dân chấp hành pháp luật, có ích cho xã hội là cần thiết.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây thương tích cho cháu H’ H là 11% sức khoẻ. Sau khi phạm tội, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho chị H’ T Niê một phần chi phí là 5.000.000 đồng. Tại phiên toà, đại diện bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản chi phí nào khác. Xét yêu cầu này là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật cần chấp nhận. Nên trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết tại phiên toà.
[6] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra đã thu giữ 01 phần lon sữa kim loại đừng nhiều tàn thuốc lá và 01 vỏ bao thuốc Jét; 01 ly thủy tinh chứa dịch màu vàng trong, dưới là cặn bột màu trắng; 01 hộp giấy ghi chữ “CALCI SUNETC” bên trong có 03 cái kéo; 01 áo trẻ em màu cam, 01 chiếc tất màu xám và 01 khăn trẻ em; 01 đầu khò ga đã qua sử dụng nhãn hiệu “NaMilux TS2022RN", vỏ nhựa của đèn khò có màu nâu nhạt, núm chỉnh lửa có màu cam, một phần vỏ nhựa đã bị nóng chảy, đầu đèn khò bằng kim loại có bám dính nhiều chất màu đen; 01 thanh hình trụ tròn (cần câu cá) có đường kính hai đầu lần lượt là 0,9 cm và 0,6cm. Một đầu của thanh trụ tròn được gắn một ống kim loại hình tròn dài 5cm, đường kính 01cm. Các phần còn lại của thanh trụ tròn được sơn màu xanh, đã bị xây xước lộ phần lõi màu trắng bên trong. Đây là những vật không liên quan đến vụ án, vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Đắk Lắk về mức hình phạt đối bị cáo là chưa tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cần áp dụng mức hình phạt cho tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm đảm bảo tác dụng răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
I.Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm c, đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D: 03 (Ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giam ngày 19/5/2025.
II.Các biện pháp tư pháp:
-Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận việc bị cáo tự nguyện tác động gia đình bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại là 5.000.000 đồng. Tại phiên toà người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác. Do đó Hội đồng xét xử không đặt trách nhiệm dân sự trong vụ án giải quyết tại phiên toà.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 điều 47; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: 01 phần lon sữa kim loại đừng nhiều tàn thuốc lá và 01 vỏ bao thuốc Jét; 01 ly thủy tinh chứa dịch màu vàng trong, dưới là cặn bột màu trắng; 01 hộp giấy ghi chữ “CALCI SUNETC” bên trong có 03 cái kéo; 01 áo trẻ em màu cam, 01 chiếc tất màu xám và 01 khăn trẻ em; 01 đầu khò ga đã qua sử dụng nhãn hiệu “NaMilux TS2022RN", vỏ nhựa của đèn khò có màu nâu nhạt, núm chỉnh lửa có màu cam, một phần vỏ nhựa đã bị nóng chảy, đầu đèn khò bằng kim loại có bám dính nhiều chất màu đen; 01 thanh hình trụ tròn (cần câu cá) có đường kính hai đầu lần lượt là 0,9 cm và 0,6cm. Một đầu của thanh trụ tròn được gắn một ống kim loại hình tròn dài 5cm, đường kính 01cm. Các phần còn lại của thanh trụ tròn được sơn màu xanh, đã bị xây xước lộ phần lõi màu trắng bên trong. (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/8/2025 được gửi tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 – Đắk Lắk)
III.Về án phí: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc Nguyễn Văn D phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
IV. Quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án Hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Đắk Lắk; -VKSND tỉnh Đắk Lắk; -VKSND khu vực 7- Đắk Lắk; -TANDTC -CQĐTCA tỉnh Đăk Lắk; -CQCSTHAHSCA tỉnh Đăk Lắk; -Cục THADS tỉnh Đắk Lăk; -Bị cáo, đương sự; Lưu HS,VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Mạnh Tuân |