- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn Y- Sử dụng vũ khí quân dụng - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, ph…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn Y phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - SƠN LA ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2025/HS-ST Ngày 24 - 12 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Tân Việt
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Bàn Thị Huệ
Ông Trần Minh Tiến
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Sòi Hùng Thịnh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo: Hà Văn Y, sinh ngày 19 tháng 10 năm 1958, tại Sơn La. Nơi cư trú: Bản X, xã Tường Hạ, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 02/10; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn Ch (đã chết) và bà Đinh Thị Q (đã chết); bị cáo có vợ (đã chết) và 05 con; tiền án; tiền sự: không; bị cáo tại ngoại, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; “có mặt”.
- Người làm chứng: anh Hà Văn T, Hà Thị T, Cầm Thị H “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Hà Văn Y và Hà Văn T là 02 bố con, sống cùng một nhà. Khoảng 21 giờ ngày 30/3/2025, sau khi ăn cơm, uống rượu ở nhà bà Hà Thị Tu về đến nhà, bị cáo Y có chửi và đuổi vợ chồng T ra khỏi nhà. Do bực tức, T đứng phía dưới sàn nhà, cầm chiếc xẻng cán bằng gỗ chọc lên sàn chỗ bị cáo Y đang nằm ngủ, rồi ném chiếc xẻng vào vị trí bị cáo Y đang nằm. T tiếp tục nhặt 01 đoạn gậy gỗ đập vào cánh cửa sổ gần chỗ Y đang nằm. Sau đó, T điều khiển xe máy đi xuống nhà bà Hà Thị Tu nhờ bà Tu đến can ngăn ông Y. Khi nghe thấy tiếng xe máy của T về đến sân, bị cáo Y cầm con dao đi ra phía đầu cầu thang thì thấy T đang đứng dưới chân cầu thang, chỉ tay hướng từ dưới lên. Bị cáo Y tay phải cầm dao, cúi người chém một phát về phía T, lưỡi dao trúng vào ngón cái bàn tay phải của T gây thương tích. Sau đó, T đi vào bếp cầm 01 chiếc xẻng quay lại chân cầu thang. T thấy bị cáo Y vẫn đang cầm dao đứng ở đầu cầu thang, liền giơ xẻng lên đập một phát về hướng bị cáo Y làm con dao rơi xuống sàn nhà. Bị cáo Y cúi xuống nhặt dao, thì T tiếp tục giơ xẻng lên đập thêm 01 phát nữa, lưỡi xẻng trúng vào đầu Y gây thương tích.
Khám nghiệm hiện trường, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La thu giữ vật chứng, gồm: 01 con dao có lưỡi dao bằng kim loại dài 27cm x 06cm, chuôi dao bằng gỗ dài 18,5cm x 11cm; 01 vỏ bao bằng gỗ dùng để đựng dao; 02 cái xẻng có cán bằng gỗ; 01 thanh gỗ dài 70 cm và 01 chiếc màn màu hồng bị rách. Ngày 05/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng. Trả lại cho ông Hà Văn Y 01 vỏ bao bằng gỗ dùng để đựng dao, 01 chiếc màn màu hồng bị rách. Trả lại cho ông Hà Văn T 02 cái xẻng có cán bằng gỗ. Tiêu hủy 01 thanh gỗ dài 70 cm.
Ngày 08/4/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương của Hà Văn Y và Hà Văn T.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 110/ KLTTCT-TTPYGĐYK ngày 17/4/2025, của Trung tâm pháp y, giám định y khoa tỉnh Sơn La kết luận:
“- Tỷ lệ tổn thương của Hà Văn Y tại thời điểm giám định là 06% (sáu phần trăm).
- Thương tích sẹo vết thương phần mềm góc trán phải do tác động trực tiếp của vật tầy cứng có cạnh, diện tiếp xúc giới hạn gây ra.
- Vết thương nằm ở vùng trọng yếu của cơ thể, nhưng chỉ tổn thương phần mềm, không tổn thương xương và nội sọ. Nếu không được cấp cứu kịp thời cũng không nguy hiểm đến tính mạng”.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 106/ KLTTCT-TTPYGĐYK ngày 16/4/2025 của Trung tâm pháp y, giám định y khoa tỉnh Sơn La kết luận:
“- Tỷ lệ tổn thương của Hà Văn T tại thời điểm giám định là 01% (một phần trăm).
- Cơ chế hình thành thương tích là do tác động của vật cứng có cạnh sắc gây ra”.
Ngày 08/5/2025, Hà Văn Y và Hà Văn T đều có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Về bồi thường thiệt hại về sức khỏe, Hà Văn Y và Hà Văn T đã tự thoả thuận bồi thường thiệt hại.
Ngày 02/6/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định số B42, gửi Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định đối với con dao Hà Văn Y sử dụng để gây thương tích cho Hà Văn T, mẫu gửi giám định 01 ký hiệu là A1.
Kết luận giám định số 645/KL-KTHS ngày 06/6/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu A1 là dao có tính sát thương cao; thuộc vũ khí quân dụng; dao vẫn còn sử dụng được”.
Với những tình tiết như trên, tại Cáo trạng số: 26/CT - VKS – P1 ngày 18/11/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Hà Văn Y về tội Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 304; các điểm s, x khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Hà Văn Y từ 20 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 con dao, lưỡi dao bằng kim loại dài 27cm x 06cm, chuôi dao bằng gỗ dài 18,5cm x 11cm.
Bị cáo nhất trí với luận tội của kiểm sát viên và không tranh luận thêm nội dung nào khác.
Kết thúc tranh luận, bị cáo trình bày lời nói sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Tại phiên tòa, bị cáo Hà Văn Y khai nhận đã sử dụng dao cố ý gây thương tích cho Hà Văn T.
Lời khai bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của những người làm chứng; phù hợp với kết luận giám định, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Theo kết luận giám định thì con dao bị cáo Y sử dụng để xâm phạm sức khỏe của Hà Văn T được xác định là “dao có tính sát thương cao; thuộc vũ khí quân dụng.”
Theo quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự thì: “1. Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 07 năm.”
Như vậy, hành vi của bị cáo Hà Văn Y đã cấu thành tội Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng theo khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự.
Đối với hành vi cố ý gây thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể của Hà Văn Y và Hà Văn T lần lượt là 06% và 01%, đủ yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, cả Hà Văn Y và Hà Văn T đều có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, nên không xử lý trách nhiệm hình sự đối với Hà Văn Y và Hà Văn T về hành vi cố ý gây thương tích.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội và về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo Hà Văn Y là nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội, có khung hình phạt từ 01 năm đến 07 năm tù. Đã xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước đối với vũ khi quân dụng, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.
Về nhân thân người phạm tội: Ngoài lần phạm tội này, người phạm tội chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo có là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công hạng ba; tự nguyện khắc phục hậu quả; bản thân là người cao tuổi, dân tộc thiểu số, học vấn thấp, nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Từ việc đánh giá những căn cứ quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy bị cáo phạm tội vì thiếu hiểu biết; bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, cho nên không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tại trại giam. Việc giao bị cáo cho chính quyền địa phương và gia đình giám sát, giáo dục vẫn đảm bảo cải tạo bị cáo thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng, áp dụng biện pháp tư pháp:
Đối với 01 con dao, lưỡi dao bằng kim loại dài 27cm x 06cm, chuôi dao bằng gỗ dài 18,5cm x 11cm, là tài sản hợp pháp của bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo dùng vào việc phạm tội; căn cứ các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 vỏ bao bằng gỗ dùng để đựng dao, 02 cái xẻng có cán bằng gỗ, 01 thanh gỗ dài 70 cm, 01 chiếc màn bị rách. Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng là phù hợp với quy định của pháp luật, cần chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi, cá nhân thuộc hộ nghèo; tại phiên tòa bị cáo đề nghị được miễn án phí; căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; cần miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 304; các điểm b, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn Y phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
Xử phạt bị cáo Hà Văn Y 24 (hai mươi tư) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 48 (bốn mươi tám) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 24/12/2025).
Giao bị cáo Hà Văn Y cho UBND xã Tường Hạ, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Bị cáo Hà Văn Y có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Căn cứ các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
Tịch thu tiêu hủy 01 con dao, lưỡi dao bằng kim loại dài 27cm x 06cm, chuôi dao bằng gỗ dài 18,5cm x 11cm.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; các Điều 14, 15; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
Bị cáo Hà Văn Y được miễn nộp 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/12/2025).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Bị cáo;
- Bị hại, ĐDHP của bị hại (nếu có);
- VKSND khu vực 5 – Sơn La;
Giao
- Người bào chữa (nếu có);
- TAND tỉnh;
- VKSND tỉnh;
- Công an tỉnh;
- Phòng HSNV- CA tỉnh;
- Cơ quan THAHS - CA tỉnh;
Gửi
- Trại tạm giam CA tỉnh;
- Đương sự (nếu có);
Hoàng Tân Việt
- Phòng THADS kv 5 (án có hiệu lực);
- Lưu: HS, VT.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại (nếu có); - VKSND huyện Phù Yên; Giao - Người bào chữa (nếu có); - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - Cơ quan điều tra- CA huyện ; - CQ Thi hành án hình sự; Gửi - Trại TG (nhà tạm giữ); - Sở tư pháp tỉnh, UBND xã; - Người có QL,NVLQ (nếu có); - Chi cục THADS huyện (án có hiệu lực); - Lưu: HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Tân Việt |