- Tranh chấp gì? án hình sự — "To Quo Hug - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm q, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM HÀ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2025/HS-ST Ngày 30 - 6 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM HÀ, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hoàng Đình Khoa.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Lương Văn Sinh và ông Nguyễn Văn Hải.
- Thư ký phiên tòa: ông Hoàng Trung Hiếu là Thư ký Toà án nhân dân huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Vũ Đức Hạnh Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2025 đối với:
- Bị cáo: Tô Quốc H, sinh ngày 12/8/1968, tại huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn T, xã Q, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh (nay là thôn T, xã Q, tỉnh Quảng Ninh, theo Nghị quyết số: 1679/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban thường vụ Quốc hội được thông qua ngày 16/6/2025); nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tô Hữu Đ và bà Đinh Thị V; vợ: chưa; con: có 03 con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 30/12/2024, hiện tạm giam tại khu vực giam giữ miền Đ. Có mặt.
- Người làm chứng: Trần Văn C, Hà Ngọc N, Lê Thị Thanh H1, Phạm Quốc V1, Vũ Thị V2, Phạm Hữu H2, Nguyễn Văn T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: khoảng 08 giờ 40 phút ngày 30/12/2024 Tô Quốc H đến quầy giao dịch (Phòng G, Ngân hàng V3, Chi nhánh M thuộc phố L, thị trấn Đ, huyện Đ, dịch gặp chị Hà Ngọc N (sinh năm 1988) là giao dịch viên để rút tiền. Do đang tiếp khách hàng khác nên chị N đã nhờ chị Vũ Thị V2 (sinh năm 1985) là Phó trưởng phòng giao dịch giúp xử lý yêu cầu của H. Chị V2 hướng dẫn H trình giấy tờ tùy thân để rút tiền theo quy định, nhưng H không đồng ý thực hiện mà dùng lời lẽ thô tục la hét chửi bới, xúc phạm, đe dọa giết chị N và chị V2 gây náo loạn phòng giao dịch khiến các nhân viên Ngân Hàng và khách hàng có mặt tại đó sợ hãi. Thấy vậy anh Phạm Quốc V1 (sinh năm 1989) là lái xe của Phòng giao dịch đến can ngăn, yêu cầu H đi ra ngoài. Khi ra đến ngoài cửa H vẫn quay lại tiếp tục chửi bới và đe dọa “riêng mày và 03 con ở trong kia tí nữa tao quay lại tao giết”. Sau đó, H bỏ về nhà thay quần áo, cầm theo balo bên trong có 01 con dao dài 17cm, cán dao bằng gỗ dài 8,5cm, quay lại Phòng giao dịch. Trên đường đi, H mua thêm 01 con dao bầu dài khoảng 45cm cho vào balo. Khi đến quầy giao dịch, H đưa cho anh V1 thẻ ATM và hộ chiếu của mình để rút tiền. Anh V1 chuyển thẻ ATM và hộ chiếu của H cho chị N, chị V2 để kiểm tra tài khoản. Sau khi kiểm tra, chị V2 thông báo lại số dư trong tài khoản của H là 4.438.000 đồng. Thấy vậy, H có phản ứng dữ dội, to tiếng, la hét, liên tục chửi bới bằng từ ngữ thô tục, xúc phạm vì cho rằng trong tài khoản của H có nhiều tiền hơn thế. Anh V1 cố gắng giải thích số dư trên là chính xác và tài khoản mà H đang đề cập có liên quan đến tiền ảo, không thuộc hệ thống ngân hàng V3, nhưng H không những không nghe mà còn tiếp tục có hành vi chửi bới, đe dọa và xúc phạm mọi người. Lúc này, tại Phòng giao dịch có khoảng gần 20 người là các nhân viên đang làm việc và khách hàng đến giao dịch. Trước thái độ hung hăng, mất kiểm soát của H, để đảm bảo an toàn và tránh ảnh hưởng đến hoạt động của Phòng giao dịch, anh V1 gọi ông Trần Văn C (sinh năm 1963, trú tại thôn B, xã T, huyện Đ) là bảo vệ của Ngân Hàng vào yêu cầu H đi ra ngoài, ngay khi vừa bước ra cửa, H bất ngờ lấy trong balo 01 con dao bầu cầm trên tay phải rồi quay lại lao về phía anh V1 giơ lên uy hiếp, dọa chém anh V1 với thái độ hung hăng, vừa đuổi anh V1 vừa chửi bới đe dọa khiến anh V1 hoảng sợ phải bỏ chạy vào khu vực bên trong quầy giao dịch, còn một số khách hàng sợ hãi bỏ chạy ra ngoài để tránh nguy hiểm. Khi anh V1 chạy vào khu vực bên trong quầy giao dịch, H đứng lại không đuổi nữa, nhưng vẫn cầm dao tiếp tục chỉ về phía anh V1 và các giao dịch viên của ngân hàng C1 đe dọa một lúc rồi đi về. Do sợ hãi trước hành vi của H và lo lắng H sẽ quay lại, một số khách hàng đã bỏ về ngay sau đó, buộc Phòng giao dịch phải đóng cửa sớm để đảm bảo an toàn.
Sau khi vụ việc xảy ra, Ủy ban nhân dân huyện Đ, Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, Công an thị trấn Đ, Phòng giao dịch ngân hàng V3 Chi nhánh M có địa chỉ tại huyện Đ đều có văn bản báo cáo về vụ việc, xác định hành vi nêu trên của Tô Quốc H gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự và an toàn xã hội trên địa bàn.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiến hành bắt giữ H và thu giữ 01 hộ chiếu số N1313394 cấp ngày 10/8/2009 mang tên Tô Quốc H; 01 dao dài 45cm, cán dao bằng gỗ dài 15cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 30cm, bản rộng 5,5cm, lưỡi dao sắc, mũi dao nhọn là hung khí H dùng để phạm tội và 01 con dao dài 17cm, cán dao bằng gỗ dài 8,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 8,5cm, bản rộng 1,1cm, lưỡi dao sắc, mũi dao nhọn là con dao H để trong ba lô.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường thể hiện: Hiện trường vụ việc xảy ra tại khu vực quầy giao dịch tầng 1 của Phòng G, Ngân hàng V3 Chi nhánh M thuộc phố L, thị trấn Đ, huyện Đ. Xung quanh liền kề là các dãy nhà dân, đường dân sinh, đối diện là quảng trường trung tâm huyện Đ đang xây dựng.
Trích xuất dữ liệu camera giám sát tại phòng G, Ngân hàng V3 Chi nhánh M, kết quả: tại thời điểm 08 giờ 43 phút 09 giây ngày 30/12/2024 xuất hiện một người đàn ông trung tuổi, đầu trọc, cao khoảng 1m7, mặc quần áo thể thao màu đen, đi giày trắng tiến lại quầy giao dịch và có những lời nói xúc phạm, đe dọa nhân viên Ngân hàng. Tại thời điểm 09 giờ 30 phút 12 giây cùng ngày xuất hiện một người đàn ông trung tuổi, đội mũ lưỡi trai đen, cao khoảng 1m7, mặc quần lửng màu đen, áo cộc tay màu ghi xám, đi giày màu trắng, đeo ba lô màu đen tiến lại quầy giao dịch và có hành vi cầm dao đe dọa nhân viên ngân hàng. Tô Quốc H xác định người đàn ông có đặc điểm như trên trong hai đoạn video trích xuất từ camera giám sát của phòng giao dịch có các hành vi xúc phạm, đe dọa nhân viên Ngân hàng chính là H.
Tại kết luận giám định số 3929/KL-KTHS ngày 19/5/2025 của V4 Bộ C2, kết luận: 01 con dao dài 45cm, dạng một lưỡi sắc, một đầu nhọn, lưỡi dài 30cm, bản rộng nhất 5,5cm và 01 con dao dài 17,5cm, lưỡi dài 1,1cm dạng sắc, nhọn, bản rộng nhất 3mm thu giữ của Tô Quốc H tại thời điểm xảy ra vụ việc ngày 30/12/2024 đều không thuộc danh mục vũ khí.
Tại kết luận giám định pháp y tâm thần số 117/KLGĐ ngày 28/5/2025 của V5 Bộ Y, kết luận: trước, trong khi gây án và tại thời điểm giám định bị can Tô Quốc H mắc bệnh rối loạn loại phân liệt, bệnh ở giai đoạn thuyên giảm. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F21. Tại các thời điểm trên bị can bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Quá trình điều tra bị cáo Tô Quốc H đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên. Ngoài ra, H còn khai nhận mục đích mua dao là để sử dụng trong sinh hoạt nấu ăn.
Tại bản Cáo trạng số: 360/CT-VKSĐH ngày 12/6/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Tô Quốc H về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm q, s khoản 1 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: bị cáo Tô Quốc H từ 18 đến 24 tháng tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/12/2024.
Về vật chứng vụ án: căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 con dao dài 45cm, cán bằng gỗ, 01 con dao dài khoảng 17cm, cán bằng gỗ. Trả lại cho bị cáo 01 sổ hộ chiếu mang tên Tô Quốc H.
Tại phiên tòa, bị cáo Tô Quốc H thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh như Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố là đúng. Lời nói sau cùng bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Hà, Kiểm sát viên: trong quá trình điều tra, truy tố của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Vì vậy, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh, tình tiết định khung hình phạt, điều luật Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh truy tố:
Về chứng cứ xác định bị cáo có tội: tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản kết luận giám định, phù hợp với vật chứng thu giữ, cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa có đủ cơ sở xác định: khoảng 08 giờ 30 phút ngày 30/12/2024, tại Phòng giao dịch Ngân hàng V3 Chi nhánh M thuộc phố L, thị trấn Đ, huyện Đ, Tô Quốc H có hành vi quát tháo, chửi bới, đe dọa và xúc phạm các nhân viên của ngân hàng. Sau khi được yêu cầu ra khỏi Ngân hàng, H tiếp tục quay lại quát tháo, chửi bới và cầm dao bầu đuổi dọa chém anh Phạm Quốc V1 (là lái xe của ngân hàng) gây náo loạn khiến các khách hàng có mặt tại đó và nhân viên của ngân hàng H3, sợ hãi, Phòng giao dịch phải đóng cửa tạm ngừng hoạt động, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự và an toàn xã hội trên địa bàn. Do đó, hành vi của bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại Điều 318 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết định khung hình phạt: ngoài hành vi quát tháo, chửi bới, bị cáo có hành vi sử dụng dao bầu đuổi dọa chém nhân viên của Phòng giao dịch Ngân hàng V3 Chi nhánh M thuộc phố L, thị trấn Đ, huyện Đ gây náo loạn, nên hành vi của bị cáo đã vi phạm tình tiết định khung “dùng hung khí...” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự như đại diện Viện kiểm sát huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh kết luận là có căn cứ và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm trực tiếp đến quy tắc công cộng, làm ảnh hưởng đến xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân. Bởi vậy, cần phải xử lý nghiêm.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có bệnh làm hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt chính: từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy, cần thiết ấn định mức hình phạt trong khung hình phạt đã truy tố đối với bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: 01 con dao dài 45cm, dạng một lưỡi sắc, một đầu nhọn, lưỡi dài 30cm, bản rộng nhất 5,5cm và 01 con dao dài khoảng 17cm, lưỡi dài 1,1cm dạng sắc, nhọn, bản rộng nhất 3mm. Đây là công cụ phương tiện phạm tội, vật không có giá trị cần tịch thu, tiêu hủy; 01 sổ hộ chiếu mang tên Tô Quốc H không liên quan đến việc phạm tội, nên trả lại cho bị cáo.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt: căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm q, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Tô Quốc H 24 (hai mươi bốn) tháng tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/12/2024.
2. Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) con dao dài 45cm, cán bằng gỗ dài 15cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 30cm, bản rộng 5,5cm, có một cạnh sắc, sống dao bằng, đầu mũi nhọn, còn mới.
- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) con dao dài khoảng 17cm, cán dao bằng gỗ dài 8,5cm, bản rộng 1,1cm, đầu mũi dao nhọn, lưỡi dao sắc, sống dao bằng, đã qua sử dụng.
- Trả lại cho bị cáo 01 (một) sổ hộ chiếu số N1313394, cấp ngày 10/8/2009 mang tên Tô Quốc H.
(Tình trạng số vật chứng trên theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/6/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh).
3. Về án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2015/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: buộc bị cáo Tô Quốc H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: căn cứ vào khoản 1 Điều 331 và khoản 1, 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - Công an tỉnh Quảng Ninh; - Cơ quan CSĐT, THAHS Công an tỉnh QN; - Viện kiểm sát, Chi cục THADS cùng cấp; - Nhà tạm giữ khu vực giam giữ miền Đông; - Phòng HSNV Công an tỉnh QN; - Lưu: hồ sơ vụ án, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Đình Khoa |