vanban.org

Bản án 10/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 23/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nông Đức M, phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Về điều luật áp dụng và hình phạt. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 191; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Đức M - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nông Đức M, phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM YÊN
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HS-ST
Ngày 23 - 01 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Dương Thị Ninh.

2. Ông Mạc Ngọc Day.

- Thư ký phiên toà: Ông Ma Ngọc Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên toà: Ông Phạm Trung Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2025/TLST-HS, ngày 02 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 06/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: NÔNG ĐỨC M (tên gọi khác: Không); giới tính: Nam; Sinh ngày 19/7/2003 tại huyện H, tỉnh Tuyên Quang;

- Nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang;

- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không;

- Họ và tên cha: Nông Mạnh H, sinh năm 1974; Họ và tên mẹ: Âu Thị T, sinh năm 1980; Anh chị, em ruột: Có 02 người, bị cáo là thứ hai; Vợ, con: Chưa có;

- Tiền án, tiền sự: Không;

- Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 271/QĐ-XPHC ngày 12/12/2022 của Công an huyện Hàm Yên xử phạt 1.250.000 đồng về hành vi Đánh bạc (Ngày 20/12/2022 đã chấp hành nộp phạt).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/10/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang. Có mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 30 phút ngày 19/10/2024, tổ công tác Công an huyện Hàm Yên đang làm nhiệm vụ tại khu vực đường từ thị trấn Tân Yên, huyện Hàm Yên đi xã Nhân Mục, huyện Hàm Yên thuộc tổ dân phố Tân Cương, thị trấn Tân Yên, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang thì phát hiện Nông Đức M, sinh năm 2003, trú tại tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang điều khiển xe mô tô biển số 22B1-446.72 (xe của Nông Tiến D, sinh năm 2000, trú tại thôn M, xã M, huyện H) không đội mũ bảo hiểm, thấy tổ công tác, M điều khiển xe rẽ vào đường liên thôn. Thấy M có biểu hiện bất thường, tổ công tác yêu cầu dừng lại để kiểm tra, quá trình kiểm tra phát hiện phía trước giá để hàng xe mô tô M điều khiển có 01 túi ni lông màu xanh bên ngoài có dòng chữ “Điện máy xanh”, bên trong có 02 khối hộp kích thước (17x17x10)cm, ngoài vỏ hộp ghi dòng chữ “KS4-4911 BILLION TIME”; 01 khối hộp kích thước (15,5x15,5x14)cm; 01 khối hộp kích thước (14,5x14,5x15)cm, bên ngoài 02 khối hộp đều ghi chữ nước ngoài. M khai 04 khối hộp trên là pháo nổ, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nông Đức M về hành vi Vận chuyển hàng cấm, niêm phong vật chứng theo quy định.

Về nguồn gốc số pháo nổ (pháo hoa nổ) Nông Đức M khai vận chuyển thuê cho Nguyễn Quang P, sinh năm 1999, trú tại thôn Đ, xã N, huyện H, tỉnh Tuyên Quang với giá 1.500.000 đồng để giao cho Đặng Văn T, sinh năm 1987, trú tại tổ dân phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Yên đã triệu tập Nguyễn Quang P nhưng P không thừa nhận thuê M vận chuyển pháo nổ và không quen biết, không bán pháo nổ cho Đặng Văn T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Yên đã áp dụng các biện pháp điều tra cho phép nhưng ngoài lời khai của Nông Đức M không có tài liệu, chứng cứ khác chứng minh số pháo nổ thu giữ là của Nguyễn Quang P.

Đối với Đặng Văn T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Yên đã triệu tập lấy lời khai, T khai có gọi thoại qua ứng dụng Messenger cho Nông Đức M và thoả thuận mua 04 bệ pháo nổ loại giàn 49 ống phóng và 02 bệ pháo nổ loại giàn 36 ống phóng với giá 5.400.000 đồng, thống nhất giao hàng vào ngày 19/10/2024 tại cổng trường Trung học phổ thông Hàm Yên, khi nào nhận pháo sẽ trả tiền. T khai không quen biết Nguyễn Quang P và không mua pháo nổ của P. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Yên đã áp dụng các biện pháp điều tra cho phép nhưng ngoài lời khai của Đặng Văn T không có tài liệu, chứng cứ chứng minh việc mua, bán pháo giữa T, M và P.

Kết quả xét nghiệm tìm chất ma tuý trong cơ thể ngày 19/10/2024 đối với Nông Đức M, kết quả: (+) Dương tính, có chất ma tuý trong cơ thể. M khai nhận sử dụng ngày 18/10/2024 tại nhà ở thuộc tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực Dốc Đèn thuộc thôn 5 Minh Phú, xã Yên Phú, huyện Hàm Yên ngày 18/10/2024.

Tại kết luận giám định số 1423/KL-KTHS ngày 23/10/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Mẫu vật gửi giám định thu giữ của Nông Đức M đều là pháo nổ (pháo hoa nổ); tổng khối lượng 6,386kg (sáu phẩy ba tám sáu kilogam).

Từ nội dung trên, tại Cáo trạng số 07/CT-VKSHY ngày 02/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Nông Đức M về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Nông Đức M tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội của mình. Nội dung lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra.

Kết thúc phần hỏi, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nông Đức M về tội “Vận chuyển hàng cấm” như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nông Đức M từ 6 (sáu) tháng đến 9 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 20/10/2024).

- Về hình phạt bổ sung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 thùng bìa Catton bên ngoài dán giấy niêm phong có chữ ký của những người liên quan và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, bên trong chứa 6,0kg (sáu Kilogam) pháo nổ (pháo hoa nổ) và 01 túi nilon màu xanh.

+ Trả lại cho bị cáo Nông Đức M: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh, kiểu máy Redmi 9A, số IMEI 1: 866009054954189, số IMEI 2: 866009054954197, trong điện thoại lắp 01 sim số thuê bao 0867620465 (điện thoại cũ đã qua sử dụng) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Ngoài ra còn đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nông Đức M nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có tranh luận gì. Lời nói sau cùng bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là sai trái và vi phạm pháp luật, bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nông Đức M đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Ngoài lời khai nhận tội của bị cáo, hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ; Kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ trên đã có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 17 giờ 30 phút ngày 19/10/2024, tại tổ dân phố Tân Quang, thị trấn Tân Yên, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Bị cáo Nông Đức M đã có hành vi vận chuyển trái phép 6,386kg (sáu phẩy ba tám sáu kilogam) pháo nổ (pháo hoa nổ), bị tổ công tác Công an huyện Hàm Yên phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Nông Đức M đã phạm vào tội “Vận chuyển hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo Nông Đức M về tội “Vận chuyển hàng cấm” là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo Nông Đức M là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quy định của nhà nước về trật tự quản lý kinh tế và gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang cho người dân. Về nhân thân bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc. Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, chỉ vì mục đích vụ lợi mà bị cáo đã vận chuyển hàng cấm (Pháo nổ) để kiếm lời, hành vi của bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội. Mặc dù pháo nổ đã bị nhà nước cấm sản xuất, buôn bán, tàng trữ, vận chuyển nhưng bị cáo vẫn cố ý phạm tội, điều đó chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật. Do vậy, cần xử phạt bị cáo thật nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX xét thấy xử phạt bị cáo với mức án khởi điểm trong khung đề nghị như Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang đề nghị tại phiên toà là phù hợp, có căn cứ pháp luật.

Về tố tụng: Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Nông Đức M không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng, không có chức vụ hay công việc gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Yên đã thu giữ: 01 thùng bìa Catton bên ngoài dán giấy niêm phong có chữ ký của những người liên quan và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, bên trong chứa 6,0kg (sáu Kilogam) pháo nổ (pháo hoa nổ) và 01 túi nilon màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh, kiểu máy Redmi 9A, số IMEI 1: 866009054954189, số IMEI 2: 866009054954197, trong điện thoại lắp 01 sim số thuê bao 0867620465 (điện thoại cũ đã qua sử dụng).

Hội đồng xét xử xét thấy:

- Đối với số lượng pháo nổ trên là vật chứng của vụ án và bị cấm lưu hành nên cần tiêu hủy theo quy định pháp luật.

- Đối với 01 điện thoại di động đây là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội và còn giá trị sử dụng nên trả lại cho bị cáo theo quy định nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về các vấn đề khác liên quan đến vụ án.

- Đối với Nguyễn Quang P và Đặng Văn T, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Yên đã áp dụng các biện pháp điều tra nhưng ngoài lời khai của bị cáo M không có tài liệu, chứng cứ xác định số pháo nổ bị cáo vận chuyển là của P thuê vận chuyển bán cho T nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án.

- Đối với Nông Tiến D không biết bị cáo Nông Đức M sử dụng xe mô tô biển số 22B1-446.72 để vận chuyển hàng cấm nên không xem xét xử lý.

- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý ngày 19/10/2024 và hành vi điều khiển xe mô tô không đội mũ bảo hiểm của bị cáo Nông Đức M. Ngày 11/11/2024, Trưởng Công an huyện Hàm Yên đã xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bị cáo Nông Đức M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nông Đức M có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nông Đức M, phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

2. Về điều luật áp dụng và hình phạt.

- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 191; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

+ Xử phạt bị cáo Nông Đức M 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 20/10/2024).

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 thùng bìa Catton bên ngoài dán giấy niêm phong có chữ ký của những người liên quan và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, bên trong chứa 6,0kg (sáu Kilogam) pháo nổ (pháo hoa nổ) và 01 túi nilon màu xanh.

(Số pháo hoa nổ trên đang được bảo quản tại Ban chỉ huy quân sự huyện Hàm Yên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/10/2024).

+ Trả lại cho bị cáo Nông Đức M: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh, kiểu máy Redmi 9A, số IMEI 1: 866009054954189, số IMEI 2: 866009054954197, trong điện thoại lắp 01 sim số thuê bao 0867620465 (điện thoại cũ đã qua sử dụng) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Tình trạng vật chứng thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Hàm Yên đã giao cho Chi cục Thi hành án dân sự Hàm Yên ngày 22 tháng 01 năm 2025).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

- Bị cáo Nông Đức M phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Bị cáo Nông Đức M có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ