vanban.org

Bản án 10/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam Tuyên án 26/02/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn Th 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/12/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Th - Trộm cắp tài sản. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH LỤC
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HS-ST
Ngày 26-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH LỤC, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Sơn và ông Nguyễn Đình Thật.

- Thư ký phiên toà: Bà Lữ Thu Thùy Dung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với:

- Bị cáo: Trần Văn Th, sinh ngày 01/6/1990 tại xã Tr, huyện B, tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Thôn Ô, xã Tr, huyện B, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn C và bà Đỗ Thị Th; có vợ là Nguyễn Thị Gi (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: không; đặc điểm nhân thân: Ngày 13/3/2008, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam quyết định về việc đưa đối tượng nghiện ma túy vào trung tâm chữa bệnh, giáo dục lao động xã hội tỉnh Hà Nam, thời gian 24 tháng; ngày 27/7/2021, Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 17/12/2024, chuyển tạm giam từ ngày 26/12/2024 đến nay; có mặt.

- Bị hại: Công ty Cổ phần chăn nuôi C Việt Nam; địa chỉ: thôn H, xã Tr, huyện B, tỉnh Hà Nam. Người đại diện: Anh Phạm Văn D, sinh năm 1985; địa chỉ: thôn Nh, xã Kh, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; là quản lý kỹ thuật trang trại chăn nuôi của Công ty; vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Ông Vũ Văn Nh; vắng mặt.

2. Ông Phạm Văn L; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ, ngày 16/12/2024, Trần Văn Th đi bộ từ nhà ở đến khu vực thôn H, xã Tr, huyện B, với mục đích tìm tài sản sơ hở trộm cắp. Khi đi đến khu vực đường đồng gần nghĩa trang thôn H, Th nhìn thấy trang trại chăn nuôi lợn của Công ty cổ phần chăn nuôi C Việt Nam, địa chỉ tại thôn H, xã Tr, huyện B, tỉnh Hà Nam nên nảy sinh ý định trộm cắp lợn của trang trại. Sau đó, Th đi bộ theo đường bờ ruộng, đến khu vực phía sau trang trại, đột nhập vào bên trong trang trại qua hàng tường rào bị đổ từ trước. Khi vào bên trong, Th quan sát thấy có nhiều chuồng chăn nuôi lợn, trong đó có 01 (một) chuồng nuôi lợn con (lợn giống) nên Th nảy sinh ý định bắt trộm số lợn con trong chuồng này, mang bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Th liền lấy 01 chiếc xe kéo tự chế trong trang trại, kéo qua lối tường rào đổ phía sau trang trại ra đường đồng, cạnh nghĩa trang thôn H, rồi đi bộ theo lối cũ, quay trở lại trang trại để bắt trộm lợn con. Khi quay lại trang trại, Th trèo qua cửa sổ vào bên trong chuồng lợn thì thấy có nhiều bao tải, Th liền dùng tay bắt tổng cộng 17 con lợn con, cho vào 07 bao tải, rồi quấn miệng bao buộc lại. Sau đó, Th lần lượt xách 07 bao tải chứa lợn con vừa trộm cắp được, mang ra khu vực để chiếc xe lôi. Th đặt 04 bao tải chứa lợn con lên xe lôi, còn 03 bao để ở dưới đất để tránh lợn bị ngạt. Sau khi trộm cắp được lợn con, Th sử dụng điện thoại, gọi bằng ứng dụng Zalo cho bạn của Th là ông Vũ Văn Nh bảo ông Nh thuê giúp Th 01 xe ô tô đến khu vực nghĩa trang thôn H để chở số lợn con Th trộm cắp được mang đi bán. Sau khi nói chuyện điện thoại với Th, ông Nh gọi điện thoại, thuê ông Phạm Văn L đến khu vực nghĩa trang thôn H chở Lợn. Khi Th đi từ khu vực nghĩa trang ra đường quốc lộ 37B đứng đợi xe ô tô của ông Nh và ông L thì bị Tổ công tác Công an xã Tr, thành phố Ph phát hiện, đưa Th cùng vật chứng về trụ sở làm việc. Sau đó, bàn giao vụ việc cho Công an xã Tr, huyện B tiếp nhận giải quyết theo thẩm quyền.

* Vật chứng thu giữ:

- Tạm giữ 01 chiếc xe kéo tự chế, loại xe 02 càng, bằng kim loại, 02 bánh bằng cao su, thùng xe kích thước rộng 75cm, dài 120cm, cáo 25cm, đã qua sử dụng.

- Tạm giữ 07 chiếc bao tải, loại bao đựng thức ăn chăn nuôi, màu trắng, trên bao có chữ màu đỏ, đã qua sử dụng.

- Tạm giữ 17 con lợn, loại lợn sữa màu trắng, trong đó có 08 con cái, 09 con đực.

- Thu giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A58, màu đen, số IMEI1: 865039065223119, IMEI2: 865039065223101, đã qua sử dụng, do Trần Văn Th tự giác giao nộp.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam đã tiến hành khám xét chỗ ở của Trần Văn Th tại thôn Ô, xã Tr, huyện B, tỉnh Hà Nam. Quá trình khám xét không thu giữ được đồ vật, tài sản, tài liệu gì có liên quan đến vụ án.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 46/KL-HĐĐG ngày 20/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bình Lục, kết luận: “Trị giá của 17 (mười bảy) con lợn đã cai sữa (lợn sử dụng làm giống) màu trắng, giống lợn lai (lợn 03 máu), trọng lượng trung bình đạt tiêu chuẩn theo giai đoạn (trung bình 6Kg/1 con) đều khỏe mạnh bình thường là: 25.500.000 đồng (Hai mươi lăm triệu năm trăm nghìn đồng)”.

Cáo trạng số 11/CT-VKS-SH ngày 21/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam truy tố Trần Văn Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn Th từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu, đề nghị gì thêm nên không đặt ra giải quyết. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A58 màu đen thu giữ của Trần Văn Th.

Quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án, đại diện theo ủy quyền của bị hại là anh Phạm Văn D có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa; về trách nhiệm dân sự, Công ty đã nhận lại tài sản bị trộm cắp là 17 con lợn giống nên không có yêu cầu, đề nghị gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo; về hình phạt, đề nghị xử bị cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn Th khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, lời nói sau cùng của bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định đó.

Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn Th thừa nhận hành vi phạm tội của mình; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản vụ việc; lời khai của đại diện bị hại, người làm chứng, bản kết luận định giá tài sản, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Có đủ cơ sở để kết luận: Rạng sáng ngày 16/12/2024, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản, Trần Văn Th đã vào trang trại chăn nuôi lợn của Công ty Cổ phần chăn nuôi C Việt Nam có địa chỉ tại thôn H, xã Tr, huyện B, tỉnh Hà Nam trộm cắp 17 con lợn giống, với tổng trị giá 25.500.000 đồng.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây bất bình trong nhân dân, ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương.

Do vậy, hành vi của Trần Văn Th đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy:

Về nhân thân: Mặc dù bị cáo Trần Văn Th không có tiền án, tiền sự nhưng là đối tượng có nhân thân xấu, đã bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc và bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa Trần Văn Th đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xem xét đánh giá khách quan, toàn diện vụ án cũng như tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để quyết định mức hình phạt đảm bảo đúng quy định của pháp luật và phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

- Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện theo ủy quyền của bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 chiếc xe kéo tự chế, 07 bao tải, 17 con lợn giống, là tài sản của Công ty cổ phần chăn nuôi C Việt Nam, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Lục đã trả lại cho anh Phạm Văn D là có căn cứ.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A58 có liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Về các vấn đề khác trong vụ án:

- Đối với ông Vũ Văn Nh đã giúp Th, thuê ông Phạm Văn L điều khiển xe ô tô đến khu vực nghĩa trang thôn H để chở số lợn giống Th trộm cắp được. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định, ông Nh và ông L không biết số lợn Th thuê chở là tài sản do Th trộm cắp mà có. Mặt khác, khi ông Nh và ông L điều khiển xe ô tô đến nơi thì Th đã bị lực lượng Công an đưa về trụ sở làm việc nên ông L và ông Nh không gặp Th. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Lục không có căn cứ để xem xét, xử lý đối với hành vi nêu trên của ông Nh và ông L.

- Đối với 01 chiếc xe kéo tự chế và 07 bao tải, Trần Văn Th sử dụng để vận chuyển lợn ra bên ngoài trang trại. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, xác định Th không có mục đích trộm cắp chiếc xe kéo và 07 bao tải nêu trên. Th khai nhận, sau khi vận chuyển lợn lên xe ô tô, Th sẽ trả lại chiếc xe kéo tự chế và 07 bao tải trên cho trang trại.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại (người đại diện bị hại) thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn Th 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/12/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A58, màu đen (Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Lục và Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam ngày 22/01/2025).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Văn Th phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại (người đại diện bị hại) vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ