vanban.org

Bản án 10/2025/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hòa Bình Tuyên án 03/03/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 03/03/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

C n cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố t ng Hình sự;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng V n T về việc xin giảm nhẹ hình phạt; Kh ng chấp nhận nội dung kháng cáo xin hư ng án treo. S a Bản án hình sự sơ thẩm số: 74/2024/HS-ST ngày 28/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện ương Sơn về hình phạt đối với bị cáo Hoàng V n T c thể: Tuyên bố bị cáo Hoàng V n T … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn T phạm tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ - phạm tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (điều 357 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
  • Tòa quyết gì? C n cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố t ng Hình sự;
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HS-PT
Ngày: 03 - 03 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Trường Sơn

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Tuấn và bà Bạch Thị Hồng Hoa

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Việt Bảo - Thư ký TAND tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Bùi Đức Hạnh - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 03 tháng 03 n m 2025 tại tr s Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xét x phúc thẩm c ng khai v án hình sự phúc thẩm th lý số: 83/2024/T T-HS ngày 13/12/2024. Do có kháng cáo của bị cáo Hoàng V n T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 74/2024/HS-ST ngày 28/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện ương Sơn, tỉnh Hòa Bình.

1. Bị cáo kháng cáo: Hoàng V n T (tên gọi khác: Kh ng), sinh n m 1978 tại huyện , tỉnh Hòa Bình. Nơi cư trú: tiểu khu A, thị trấn , huyện , tỉnh Hòa Bình. Nghề nghiệp: Cán bộ, c ng chức; Giới tính: Nam; Dân tộc: Mường; T n giáo: kh ng; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ v n hóa: 12/12; Con ng Hoàng Tiến và bà Bùi Thị R (đã chết); Có vợ là Bạch Thị B và 03 con. Tiền án, tiền sự: Kh ng.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2024 đến 29/01/2024. Hiện bị cáo đang bị áp d ng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, được triệu tập có mặt tại phiên tòa.

2. Các bị cáo không kháng cáo và không bị kháng nghị:

2.1. Lê Vinh Q, sinh n m 1988

Nơi cư trú: tiểu khu I, thị trấn , huyện , Hòa Bình

2.2. Bùi Xuân N, sinh n m 1982

Nơi cư trú: th n Ao Kềnh, xã iên Sơn, huyện ương Sơn, Hòa Bình

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị:

3.1. Ông Nguyễn Ngọc C, sinh n m 1963; Nơi cư trú: Suối Sếu A, xã N, huyện , tỉnh Hòa Bình.

3.2. Ủy ban nhân dân xã N, huyện , tỉnh Hòa Bình. Đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng V n B1 – hó Chủ tịch (ph trách)

Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa v liên quan không kháng cáo và kh ng bị kháng nghị Tòa án kh ng triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 6/2022 ng Nguyễn Ngọc C xây dựng nhà mới trên th a đất số 378, 379, 356 tờ bản đồ số 41 thuộc Suối Sếu A, xã N, huyện , tỉnh Hòa Bình. Khoảng tháng 10/2022 Hoàng V n T có trong thành phần của đoàn công tác xã N khi kiểm tra tình hình hoàn thiện hồ sơ n ng th n mới n m 2023, đã phát hiện ng C xây dựng nhà có dấu hiệu vi phạm pháp luật đất đai. Hoàng V n T đã chỉ đạo Bùi Xuân N thành lập tổ c ng tác, kiểm tra x lý và phát hiện ng C đã san nền lấn chiếm khoảng 80m2 đất, xây nhà lấn chiếm khoảng 10m2 đất (trong số 80m2), xây dựng nhà trên 03 th a đất trồng cây lâu n m, nhưng kh ng tiến hành lập biên bản. Sau khi Bùi Xuân N báo cáo kết quả, Hoàng V n T chỉ đạo mời ng C lên làm việc, thiết lập hồ sơ x lý và cũng chỉ đạo N trao đổi với ông C xem nếu có nhu cầu s d ng đất lấn chiếm nói trên thì UBND xã sẽ làm thủ t c cấp đất và ng C phải nộp một khoản tiền cho UBND xã, đồng thời sẽ kh ng x phạt vi phạm hành chính.

Khi ông C đến làm việc, Bùi Xuân N th ng báo các lỗi vi phạm và nói khi UBND xã N ra quyết định x phạt vi phạm hành chính sẽ tiến hành cưỡng chế, tháo dỡ c ng trình vi phạm. Nếu ng C kh ng muốn bị tháo dỡ thì phải chi tiền mua khu đất đã lấn chiếm nêu trên.

Sau đó N dẫn ng C đến phòng làm việc của Hoàng V n T để nói chuyện về việc mua đất. Tại đây có Lê Vinh Q, T đề nghị ng C phải chi tiền để được s d ng khu đất, nếu kh ng mua sẽ kh ng được s d ng và chỉ được s d ng lối đi có chiều rộng 01m, đồng thời bị x phạt hành chính và buộc tháo dỡ c ng trình vi phạm. Hoàng V n T nói với ng C giá đất theo thị trường vị trí đó là 7.000.000đ/m2 nhưng nếu ng C lấy đất để s d ng thì UBND xã sẽ tạo điều kiện kh ng x phạt vi phạm hành chính và cho mua với giá ưu tiên là 3.000.000đ/m2 x 80m2 = 240.000.000đ, T cho biết giá trên đã được Đảng ủy xã thống nhất. Sau nhiều lần thỏa thuận thì Hoàng V n T nói với ng C mức giá thấp nhất là 150.000.000đ và động viên ng C cố mà lấy đất và sẽ cho người về trích đo, trích l c th a đất, UBND xã sẽ ký xác nhận để ng C được s d ng đất. Lúc này ông C vẫn chưa đồng ý và nói cần xem xét, bàn bạc với gia đình.

Khoảng mấy ngày sau ng C đến UBND xã gặp Bùi Xuân N để nộp tiền, N dẫn ng C đến phòng của Lê Vinh Q. Tại đây ng C nói chỉ nộp 120.000.000đ và sẽ nộp trước số tiền 100.000.000đ, nhưng N và V kh ng đồng ý vì cho rằng đã thỏa thuận nộp tiền mua đất là 150.000.000đ thì phải nộp đủ. Ông C nói phải trừ đường đi nên diện tích mua chỉ khoảng 60m2 và ông C chỉ mua đất với giá 2.000.000đ/m2. Lúc này Lê Vinh Q nói với Bùi Xuân N sang xin ý kiến của Hoàng V n T. Sau đó N có trao đổi lại với ng C đồng ý số tiền phải nộp là 140.000.000đ và sẽ chia thành nhiều đợt nộp. Đối với số tiền 40.000.000đ còn lại sẽ được nộp vào cuối n m (tức ngày 31/12/2022) nộp thêm 20.000.000đ và trong quý I n m 2023 khi có trích l c thì sẽ nộp nốt 20.000.000đ. Ông Nguyễn Ngọc C đồng ý và nộp số tiền 100.000.000đ cho Lê Vinh Q.

Khoảng một tuần sau Q cùng anh Đỗ Thành Đ là cán bộ thuộc Chi nhánh V ĐKĐĐ huyện về đo đạc nhưng do kh ng có mặt ng C và các hộ liền kề để ký xác nhận nên kh ng tiến hành đo đạc được. Đến tháng 11/2023, sau hơn một n m kh ng thấy UBND xã N bàn giao trích l c th a đất như đã thỏa thuận, ng C đã nhiều lần gọi điện cho Hoàng V n T, Bùi Xuân N, Lê Vinh Q yêu cầu phải thực hiện như đã thỏa thuận. Khoảng đầu tháng 12/2023 Bùi Xuân N dẫn anh Nguyễn Quang M về đo đất, tuy nhiên khi đến đo thì kh ng có đầy đủ thành phần là ng C và các hộ liền kề. Bức xúc về việc làm trên của cán bộ, c ng chức UBND xã N nên ngày 15/12/2023 ông C đã làm đơn tố cáo hành vi của Hoàng V n T, Bùi Xuân N, Lê Vinh Q.

Kết quả đo vẽ lại bản đồ địa chính số 99-2024 của Chi nhánh V ĐKĐĐ huyện cung cấp xác định: hần diện tích trích đo (tên th a 434) hiện trạng đất mà ông C lấn chiếm, s d ng là 103m2, diện tích xây dựng chồng lấn vào diện tích trích đo là 5,2m2. C n cứ vào bản đồ địa chính đo vẽ tháng 6/1996 được lưu giữ tại Chi nhánh V ĐKĐĐ huyện xác định nguồn gốc 103m2 đất là một phần diện tích th a đất số 11, tờ bản đồ F-48-116-E- tờ 41, diện tích 28.880m2 là sân bóng do UBND xã N quản lý. C n cứ quy hoạch s d ng đất được phê duyệt theo số 2036/QĐ-UBND ngày 13/9/2021 của UBND tỉnh H về việc phê duyệt quy hoạch s d ng đất thời kỳ 2021-2030 và kế hoạch s d ng đất n m 2021 huyện ; Quyết định số 1260/QĐ-UBND ngày 13/6/2023 của UBND tỉnh H về việc điều chỉnh quy m , địa điểm và số lượng dự án, c ng trình trong quy hoạch s d ng đất thời kỳ 2021 – 2030 huyện và Quyết định số 1335/QĐ-UBND ngày 23/6/2023 của UBND tỉnh H về việc phê duyệt Kế hoạch s d ng đất n m 2023 huyện thì khu đất nêu trên được quy hoạch là đất giao th ng (đường đi). Tuy nhiên khi làm đường bê t ng tuyến đường thuộc thôn S A tại khu đất này thì chỉ đổ bê t ng hóa có chiều rộng khoảng 4m, do đó có thừa ra khu đất trống nêu trên.

Đối với số tiền 100.000.000đ do ng C nộp cho Lê Vinh Q, Hoàng V n T chỉ đạo Q kh ng nộp ngân sách Nhà nước mà chi: Đặt cơm hỗ trợ Trường mầm non xã N đón trường C2 với số tiền là 20.500.000đ; Chi hỗ trợ vườn mẫu cho hộ gia đình bà Hoàng Thị N1 và hộ gia đình ng Hoàng Trọng T1 mỗi hộ là 5.000.000đ; C1 hỗ trợ cho C3 tr s làm việc với số tiền 30.000.000đ; Chi thuê bà Hà Thị Y nấu cơm hội nghị tiểu c m địa bàn Đ với số tiền 4.000.000đ; Chi tổ chức tổng kết phong trào thi đua yêu nước của UBND xã N với số tiền 35.500.000đ. Quá trình giải quyết v án các bị cáo đã góp tiền trả lại cho ng C số tiền 100.000.000đ, trong đó bị cáo T 40.000.000đ, hai bị cáo Q và N mỗi bị cáo là 30.000.000đ.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 74/2024/HS-ST ngày 28/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện ương Sơn, tỉnh Hòa Bình đã quyết định:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng V n T, Bùi Xuân N, Lê Vinh Q phạm tội “ ạm quyền trong khi thi hành c ng v ”.

2. Về hình phạt: Áp d ng điểm c khoản 2 Điều 357, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 54, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự. X phạt bị cáo Hoàng V n T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tự nguyện thi hành án hoặc bị bắt thi hành án, được trừ đi thời gian đã bị bắt tạm giam từ ngày 06/01/2024 đến ngày 29/01/2024.

Cấm Hoàng V n T đảm nhiệm chức v liên quan đến việc phạm tội 03 n m kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh, hình phạt của các bị cáo khác, về x lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 04/11/2024 bị cáo Hoàng V n T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hư ng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố t ng: Quá trình giải quyết v án tại cấp phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét x và những người tham gia tố t ng khác đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố t ng hình sự. Các bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định nên được chấp nhận.

Về nội dung kháng cáo: Áp d ng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố t ng Hình sự. Chấp nhận kháng cáo về việc xin giảm nhẹ hình phạt và kh ng chấp nhận nội dung kháng cáo xin hư ng án treo của Hoàng V n T. S a Bản án hình sự sơ thẩm số: 74/2024/HS-ST ngày 28/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện ương Sơn, tỉnh Hòa Bình về phần hình phạt đối với bị cáo T. Đề nghị x phạt bị cáo 20 (Hai mươi) tháng tù.

Bị cáo kh ng có ý kiến tranh luận và nói lời sau cùng: Đã nhận thức được hành vi của mình và mong HĐXX xem xét giảm nhẹ mức hình phạt để có cơ hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố t ng: Hành vi, quyết định của cơ quan tố t ng và người tiến hành tố t ng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật Tố t ng hình sự. Bị cáo kh ng có ý kiến, hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đều hợp pháp.

Kháng cáo của Hoàng V n T trong thời hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, người có quyền lợi nghĩa v liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ v án nên có cơ s khẳng định: Hoàng V n T giữ chức v hó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã N, huyện , nhiệm kỳ 2021-2026 là người có đẩy đủ n ng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được Chủ tịch UBND xã kh ng có thẩm quyền giao đất thu tiền theo quy định tại Điều 59 uật Đất đai, song do động cơ v lợi, khoảng tháng 6/2022 khi phát hiện gia đình ng Nguyễn Ngọc C xây dựng nhà vi phạm pháp luật về đất đai, Hoàng V n T đã thỏa thuận và chỉ đạo Bùi Xuân N, Lê Vinh Q thu 140.000.000 đồng của ng Nguyễn Ngọc C để giao cho ng C s d ng phần đất lấn chiếm. Ông C đã nộp 100.000.000 đồng nhưng các bị cáo kh ng đưa vào ngân sách Nhà nước mà s d ng số tiền này cho việc chi trả và hỗ trợ hoạt động của UBND xã. Hành vi vượt quá quyền hạn trong quản lý đất đai đã gây thiệt hại 100.000.000 đồng cho ng C của bị cáo đã xâm phạm nghiêm trọng đến hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà nước, làm suy giảm niềm tin của nhân dân và hoạt động chính quyền của địa phương, tạo dư luận xấu trong xã hội. Tòa án nhân dân huyện ương Sơn đã xét x bị cáo về tội “ ạm quyền trong khi thi hành c ng v ” theo điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 357 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo Hoàng V n T: Bị cáo kh ng có tình tiết t ng nặng; Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là bị cáo thành khẩn khai báo, n n n hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại, nhiều n m liền bị cáo được c ng nhận lao động tiên tiến, n m 2010 đạt danh hiệu Chiến sỹ thi đua cơ s , nhiều cơ quan, tổ chức tặng giấy khen, bố bị cáo có nhiều thành tích trong c ng tác chiến đấu, được khen thư ng đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 B HS đã được cấp sơ thẩm áp d ng cho bị cáo. Cấp sơ thẩm đã c n cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, các tình tiết t ng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xét x bị cáo 24 tháng tù là có c n cứ, đúng pháp luật.

Tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp thêm tình tiết mới đó là: Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh H tặng thư ng cho bị cáo vì đã có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc n m 2023; Bị cáo được Bộ trư ng Bộ C4 tặng kỷ niệm chương bảo vệ an ninh tổ quốc n m 2023; Đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của ng Nguyễn Ngọc C; Đơn xin xác nhận gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó kh n, là lao động chính duy nhất trong gia đình, bị cáo phải nu i bố đẻ 80 tuổi thường xuyên đau ốm và 03 con còn nhỏ (UBND thị trấn xác nhận). Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51 B HS cần áp d ng cho bị cáo khi quyết định hình phạt. Do vậy HĐXX có c n cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ mức hình phạt của bị cáo.

Đối với nội dung kháng cáo xin được hư ng án treo, Hội đồng xét x xét thấy, trong v án này Hoàng V n T là người đứng đầu, các bị cáo Lê Vinh Q, Bùi Xuân N2 thực hiện hành vi phạm tội là theo sự chỉ đạo của bị cáo T. Bị cáo đã lợi d ng chức v quyền hạn để tr c lợi nên thuộc những trường hợp kh ng cho hư ng án treo được quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị quyết số: 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 hướng dẫn áp d ng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Do vậy kh ng chấp nhận kháng cáo về việc xin hư ng án treo của bị cáo.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm kh ng có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo kh ng phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

C n cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố t ng Hình sự;

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng V n T về việc xin giảm nhẹ hình phạt; Kh ng chấp nhận nội dung kháng cáo xin hư ng án treo. S a Bản án hình sự sơ thẩm số: 74/2024/HS-ST ngày 28/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện ương Sơn về hình phạt đối với bị cáo Hoàng V n T c thể:

Tuyên bố bị cáo Hoàng V n T phạm tội “ ạm quyền trong khi thi hành c ng v ”.

C n cứ điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 357, điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 54, Điều 58, Điều 38, Điều 41 B HS. X phạt Hoàng V n T 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tự nguyện thi hành án hoặc bị bắt thi hành án được trừ thời gian đã bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2024 đến ngày 29/01/2024.

2. Về án phí: Bị cáo Hoàng V n T kh ng phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số: 74/2024/HS-ST ngày 28/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện ương Sơn, tỉnh Hòa Bình kh ng có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (03/03/2025).

Cỡ chữ