vanban.org

Bản án 10/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp và quản lý, sử d…

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Mỹ L được ly hôn với anh Vi Văn K. Về trách nhiệm nuôi con: Giao cháu Vi Đinh Ánh D, sinh ngày 28/01/2019 cho anh Vi Văn K trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con trưởng thành, đủ 18 tuổi. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Đinh Thị Mỹ L. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lan + Kèo"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp và quản lý, sử d…
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10 /2025/HNGĐ-ST
Ngày 16 tháng 01 năm 2026
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Trường Giang.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hà và bà Hoàng Thị Thuý Giang.

Thư ký phiên toà : Lê Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5 - Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân khu vực 5, tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án thụ lý số 141/2025/TLST-HNGĐ, ngày 18 tháng 11 năm 2025 về việc Ly hôn và tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 16 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 33/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 31 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Mỹ L, sinh năm 1998, Số CCCD: xxxxxxxxxxxx, Nơi ĐKHKTT: Bản Tân Ngọc, xã SL, tỉnh Nghệ An. Chỗ ở hiện nay: Thôn Vè, xã Minh Hoá, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Vi Văn K, sinh năm 1996; Số CCCD: xxxxxxxxxxxxx; Địa chỉ: bản Tân Ngọc, xã SL, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong đơn xin xử vắng mặt nguyên đơn chị Đinh Thị Mỹ L trình bày:

Chị và anh Vi Văn K kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có được tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Hồng Hoá, huyện Minh Hoá (nay là xã Minh Hoá), tỉnh Quảng Trị vào ngày 16 tháng 03 năm 2018. Sau khi kết hôn vợ chồng vào nam sinh sống làm ăn chung sống hạnh phúc được một thời gian. Đến năm 2018 chị về quê sinh con và nuôi con còn anh Kèo đi làm ăn. Từ đó vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tình tình không hợp, khác nhau về quan điểm sống. Từ năm 2021 đến nay vợ chồng không còn sống chung, quan tâm chăm sóc nhau nữa. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên có nguyện vọng được ly hôn với anh Vi Văn K.

Về trách nhiệm nuôi con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là Vi Đinh Ánh D, sinh ngày 28/01/2019. Hiện nay, con chung đang sống cùng với anh Vi Văn K tại Bản Tân Lập, xã SL, tỉnh Nghệ An. Nay ly hôn nguyện vọng của chị là muốn để cho anh Vi Văn K trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vi Đinh Ánh D và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị.

Về tài sản chung và nợ: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án anh Vi Văn K đã được tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng anh đều vắng mặt không có lý do.

Bà Dương Thị Xuyến là mẹ của anh Vi Văn K trình bày: Quá trình kết hôn của anh Vi Văn K và chị Đinh Thị Mỹ L đúng như lời trình bày của chị Đinh Thị Mỹ L. Sau khi nhận các văn bản tố tụng bà đã thông báo cho anh Vi Văn K biết. Mặc dù biết chị Đinh Thị Mỹ L yêu cầu được ly hôn với anh Kèo nhưng anh không có ý kiến gì. Về vấn đề mâu thuẫn vợ chồng chị Lan anh Kèo bà Xuyến không được rõ. Bà thừa nhận vợ chồng anh Vi Văn K và chị Đinh Thị Mỹ L có 01 con chung là Vi Đinh Ánh D, sinh ngày 28/01/2019. Hiện nay đang sống cùng với anh Vi Văn K tại Bản Tân Lập, xã SL, tỉnh Nghệ An. Ly hôn, nguyện vọng của anh Kèo là được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vi Đinh Ánh D và không yêu cầu chị Đinh Thị Mỹ L cấp dưỡng nuôi con. Bà Xuyến sẽ có trách nhiệm cùng anh Kèo chăm sóc cháu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Nghệ An phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng là nguyên đơn từ khi thụ lý giải quyết cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án hoàn toàn tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình, xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Mỹ L được ly hôn với anh Vi Văn K.

Về trách nhiệm nuôi con chung: Giao cháu Vi Đinh Ánh D, sinh ngày 28/01/2019 cho anh Vi Văn K trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Đinh Thị Mỹ L do anh Vi Văn K không yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ: Không có yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc chị Đinh Thị Mỹ L phải chịu án phí dân sự ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án Tranh chấp Hôn nhân gia đình được quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại xã SL, tỉnh Nghệ An. Cho nên việc thụ lý, giải quyết thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Nghệ An.

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị đơn chị Đinh Thị Mỹ L vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn anh Vi Văn K vắng mặt đã được Toà án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn.

[ 2] Về nội dung vụ án: Chị Đinh Thị Mỹ L và anh Vi Văn K kết hôn với nhau hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hồng Hóa, huyện Minh Hóa (nay là xã Minh Hóa), tỉnh Quảng Trị vào ngày 16/3/2018 theo đúng quy định. Sau khi kết hôn vợ chồng vào nam sinh sống làm ăn chung sống hạnh phúc được một thời gian. Đến năm 2018 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, khác nhau về quan điểm sống. Từ năm 2021 đến nay vợ chồng không còn sống chung, quan tâm chăm sóc nhau nữa. Như vậy, vợ chồng hiện tại không sống chung với nhau, không còn quan tâm, chăm sóc nhau là vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị Lan yêu cầu được ly hôn anh Kèo là có cơ sở. Bị đơn anh Vi Văn K mặc dù đã được tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng đều cố tình vắng mặt không có lý do chính đáng, điều đó khẳng định anh không xem trọng cuộc hôn nhân này. Do vậy, căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho chị Đinh Thị Mỹ L được ly hôn anh Vi Văn K.

Về trách nhiệm nuôi con: Vợ chồng chị có 01 con chung là Vi Đinh Ánh D, sinh ngày 28/01/2019. Hiện nay, con chung đang sống cùng với anh Vi Văn K và bố mẹ anh tại xã SL, tỉnh Nghệ An. Ly hôn, nguyện vọng của chị Đinh Thị Mỹ L là muốn để cho anh Vi Văn K trực tiếp nuôi dưỡng và tạm hoãn nghĩa vụ góp cấp dưỡng nuôi con cho chị. Xét thấy lâu nay cháu Vi Đinh Ánh D sống cùng với Vi Văn K. Để các cháu phát triển một cách toàn diện về thể chất và tinh thần đồng thời không làm xáo trộn đến tâm lý phát triển của con chưa thành niên nên cần giao cháu Vi Đinh Ánh D cho anh Vi Văn K trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Đinh Thị Mỹ L là phù hợp với quy định.

Về tài sản chung: Không có yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn chị Đinh Thị Mỹ L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Về ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Nghệ An tại phiên tòa. Xét thấy việc tuân theo quy định pháp luật và các nội dung liên quan đến việc giải quyết vụ án là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Mỹ L được ly hôn với anh Vi Văn K.

Về trách nhiệm nuôi con: Giao cháu Vi Đinh Ánh D, sinh ngày 28/01/2019 cho anh Vi Văn K trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con trưởng thành, đủ 18 tuổi. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Đinh Thị Mỹ L.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở người đó thực hiện quyền này.

Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một bên hoặc các bên thì Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản chung và nợ: Không có yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Buộc chị Đinh Thị Mỹ L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002859 ngày 18 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Chị Đinh Thị Mỹ L đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ