- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lâm Thị KIm Thu xin ly hôn Nguyễn Văn Khuya"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - VĨNH LONG TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST Ngày: 05 - 8 – 2025 V/v Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Toàn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lƣơng Phi Hùng
2. Ông Sơn Mứt
- Thư ký phiên tòa: Ông Ứng Văn Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 tham gia phiên toà: Thuộc trường hợp không tham gia.
Trong ngày 05 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 97/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 11 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/QĐHPT-HNGĐ, ngày 10 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lâm Thị A, sinh năm 1978
Địa chỉ: Tổ 22, Khóm 4, phường Cái Vồn, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.
Nay là: Tổ 22, Khóm 4, phường Cái Vồn, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1970
Địa chỉ: Tổ 22, Khóm 4, phường Cái Vồn, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.
Nay là: Tổ 22, Khóm 4, phường Cái Vồn, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại Đơn khởi kiện đề ngày 13/3/2025 và qua quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lâm Thị A trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn B do tự quen biết và tìm hiểu nhau rồi tiến tới hôn nhân, được hai bên gia đình chấp thuận, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn Cái Vồn, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long (Nay là phường Cái Vồn, tỉnh Vĩnh Long), được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 98, ngày 26/6/2009.
Thời gian đầu hai anh chị chung sống hạnh phúc, về sau do gặp khó khăn về kinh tế nên phát sinh mâu thuẫn, cả hai thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, hai vợ chồng anh chị đã sống ly thân với nhau từ năm 2023 cho tới nay. Từ đó, chị A nhận thấy đời sống vợ chồng không thể kéo dài nên xin được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giữa chị A và anh B có ba người con chung là cháu Nguyễn Lâm Phát Tài, sinh ngày 07/9/1999, cháu Nguyễn Lâm Rạng Đông, sinh ngày 21/3/2009 và cháu Nguyễn Lâm Ánh Ngọc, sinh ngày 13/8/2015. Đối với cháu Phát Tài đã trưởng thành chị A không yêu cầu giải quyết, sau khi ly hôn chị A yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi hai cháu Rạng Đông và Ánh Ngọc, chị A không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị A không yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về trình tự thủ tục tố tụng: Tại phiên toà, nguyên đơn chị Lâm Thị A có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 11/6/2025, bị đơn anh Nguyễn Văn B đã được tòa án triệu tập hợp lệ đến lần hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, việc vắng mặt của các đương sự nêu trên là không vì sự kiện bất khả kháng, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị Lâm Thị A và anh Nguyễn Văn B.
Về quan hệ hôn nhân:
Theo lời trình bày của chị A thì giữa chị và anh Nguyễn Văn B do quen biết và tìm hiểu nhau rồi tiến tới hôn nhân, được hai bên gia đình chấp thuận, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Cái Vồn, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long (Nay là phường Cái Vồn, tỉnh Vĩnh Long), được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 98, ngày 26/6/2009.
Thời gian đầu hai anh chị chung sống hạnh phúc, về sau do gặp khó khăn về kinh tế nên phát sinh mâu thuẫn, cả hai thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, hai vợ chồng anh chị đã sống ly thân với nhau từ năm 2023 cho tới nay. Từ đó, chị A nhận thấy đời sống vợ chồng không thể kéo dài nên xin được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.
Đối với anh B, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng anh vẫn không tham gia và cũng không có văn bản nào trình bày ý kiến của anh về yêu cầu khởi kiện của chị A, nên anh đã không thực hiện nghĩa vụ chứng minh của mình. Vì vậy, anh B phải chịu hậu quả pháp lý của việc không thực hiện nghĩa vụ chứng minh theo quy định.
Từ đó cho thấy, hôn nhân giữa chị A và anh B đã rơi vào tình trạng bế tắc trầm trọng, không còn khả năng đoàn tụ, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Thêm nữa, chị A và anh B đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Từ đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Lâm Thị A được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.
Về con chung: Chị A và anh B có ba người con chung là cháu Nguyễn Lâm Phát Tài, sinh ngày 07/9/1999, cháu Nguyễn Lâm Rạng Đông, sinh ngày 21/3/2009 và cháu Nguyễn Lâm Ánh Ngọc, sinh ngày 13/8/2015, hiện tại các cháu đang sống chung với chị A. Đối với cháu Phát Tài đã trưởng thành chị A không yêu cầu giải quyết, sau khi ly hôn chị A yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu Rạng Đông và Ánh Ngọc, chị A không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.
Xét yêu cầu này của chị A là có cơ sở, bởi anh B không có văn bản nào trình bày ý kiến đối với yêu cầu này của chị A. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị A, giao cháu Nguyễn Lâm Rạng Đông, sinh ngày 21/3/2009 và cháu Nguyễn Lâm Ánh Ngọc, sinh ngày 13/8/2015 cho chị Lê Thị A được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Đối với cháu Nguyễn Lâm Phát Tài, sinh ngày 07/9/1999 đã trưởng thành không đặt ra xem xét giải quyết.
Anh Nguyễn Văn B không trực tiếp nuôi con nhưng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lâm Thị A chưa yêu cầu nên anh Nguyễn Văn B chưa phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lâm Thị A không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Lâm Thị A phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2025;
- Các Điều 9; 51; 56; 57; 81; 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014,
- Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự,
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Thị A.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lâm Thị A được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.
2. Về con chung: Tiếp tục giao cháu Nguyễn Lâm Rạng Đông, sinh ngày 21/3/2009 và cháu Nguyễn Lâm Ánh Ngọc, sinh ngày 13/8/2015 cho chị Lâm Thị A được trực tiếp nuôi dưỡng.
Anh B không trực tiếp nuôi con nhưng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Cháu Nguyễn Lâm Phát Tài, sinh ngày 07/9/1999 đã trưởng thành, chị A không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lâm Thị A chưa yêu cầu nên anh Nguyễn Văn B chưa phải cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
4. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị Lâm Thị A phải nộp 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Khấu trừ số tiền 300.000 đồng chị A đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0005603, ngày 14/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bình Minh (Nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3). Do đó, chị A đã nộp xong.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt Nguyên đơn, Bị đơn. Báo cho các đương sự biết, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh VL: 01; - VKSND Khu vực 3: 01; - Phòng THADS Khu vực 3: 01; - UBND phường Bình Minh; - Đương sự: 02; - Lưu: 08. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Khắc Toàn |