- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đinh Thị Hạnh xin ly hôn Trần Đăng Tân"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Đinh Thị Ngọc H. Tuyên bố Bà Đinh Thị Ngọc H và ông Trần Đăng T được ly hôn.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2025/HNGĐ - ST Ngày: 05 - 08- 2025 Về việc: xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Ngân;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đinh Hữu Luynh;
2. Bà Nguyễn Thị Xuân Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Việt - Kiểm Sát Viên.
Ngày 05 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 150/2025/TLST-DS ngày 17 tháng 6 năm 2025 về việc “Tranh chấp xin ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐ-DS ngày 24 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Đinh Thị Ngọc H, sinh năm: 1979; Địa chỉ: số nhà C xóm G, thôn N, xã K, tỉnh Lâm Đồng.
Bị đơn: Ông Trần Đăng T, sinh năm: 1971 ; Địa chỉ: số nhà C xóm G, thôn N, xã K, tỉnh Lâm Đồng.
(các đương sự có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình làm việc và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Đinh Thị Ngọc H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đinh Thị Ngọc H và ông Trần Đăng T yêu thương, tự nguyện tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới và chung sống với nhau từ năm 1996. Đến năm 2002, hai bên mới đăng ký kết hôn tại UBND xã K vào ngày 06/12/2002 theo giấy chứng nhận kết hôn số 143 quyển số 02/2002.
Trong cuộc sống vợ chồng, giữa bà H và ông T chỉ hạnh phúc được vài năm đầu, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn. Bà H đã cố gắng chịu đựng vì con. Nguyên nhân mâu thuẫn là do hai bên bất đồng quan điểm trong việc làm ăn phát triển kinh tế gia đình. Chính vì vậy, bắt đầu từ tháng 09/2019, hai bên đã tự chia đất ra làm ăn riêng, kinh tế phần ai nấy lo, không liên quan gì đến nhau.
Mặc dù đã tách ra làm ăn riêng nhưng vợ chồng vẫn sống chung nhà, việc ăn uống chi tiêu sinh hoạt trong gia đình vẫn do bà H chi tiêu. Ông T vẫn hay uống rượu về chửi bới, chì chiết bà H nhiều lần, sự việc kéo dài nhiều năm. Đến nay, bà H thật sự không thể chịu đựng thêm nên xin được ly hôn với ông T để tâm hồn được thanh thản.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà Đinh Thị Ngọc H và ông Trần Đăng T có các con là Trần Đăng Đ và Trần Đăng T1. Bà H xác nhận các con đã đủ tuổi trưởng thành, có công việc và thu nhập riêng nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung.
Bị đơn bị đơn ông Trần Đăng T trình bày tại bản tự khai ngày 17/7/2025, quá trình hòa giải, cũng như tại phiên tòa: Ông xác nhận lời trình bày của bà H về thời gian vợ chồng kết hôn chung sống, đăng ký kết hôn là đúng. Ông thừa nhận trong cuộc sống vợ chồng có bất đồng quan điểm trong việc làm ăn kinh tế nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Bản thân ông thường hay uống rượu chửi bới, xúc phạm vợ. Tuy nhiên, sau khi hết rượu ông vẫn xin lỗi vợ. Ông cũng xác nhận việc hai bên đã tự chia đất ra làm ăn riêng từ năm 2019, bản thân ông tự làm diện tích đất 3,5 sào, phần đất còn lại 3,6 sào để bà H và con trai làm. Hai bên tự lo về kinh tế, không liên quan gì đến nhau. Ông T không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà H vì ông vẫn còn thương yêu vợ con, không muốn vợ chồng phải chia lìa.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Tại phiên tòa, bà Đinh Thị Ngọc H vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông Trần Đăng T. Ông T vẫn mong muốn bà H suy nghĩ rút đơn cho ông cơ hội sửa đổi để vợ chồng chung sống hạnh phúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Lâm Đồng tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên toà, Toà án thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật, đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Đinh Thị Ngọc H. Cho bà H và ông Trần Đăng T ly hôn. Con chung đã trưởng thành, tài sản chung các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về áp dụng pháp luật tố tụng: Đây là vụ án “Tranh chấp xin ly hôn” giữa nguyên đơn bà Đinh Thị Ngọc H và bị đơn ông Trần Đăng T. Ông Trần Đăng T có nơi cư trú tại số nhà C xóm G, thôn N, xã K, tỉnh Lâm Đồng, căn cứ Khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Khoản 3 Điều 36; Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Lâm Đồng.
. Về áp dụng pháp luật nội dung:
. Về quan hệ hôn nhân: Xét quan hệ hôn nhân giữa bà Đinh Thị Ngọc H và ông Trần Đăng T là hợp pháp, được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã K vào ngày 06/12/2002 theo giấy CNKH số 143 quyển số 02/2002.
Hai bên chung sống có thời gian hạnh phúc ban đầu nhưng sau đó đã phát sinh mâu thuẫn nghiêm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu do bất đồng quan điểm trong việc làm ăn kinh tế và việc ông T thường xuyên uống rượu về chửi bới, chì chiết bà H. Mặc dù đã chia đất làm ăn riêng từ tháng 09/2019 và sống riêng về kinh tế nhưng ông T vẫn có hành vi xúc phạm bà H, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình cảm vợ chồng. Việc bà H không thể chịu đựng thêm và kiên quyết yêu cầu ly hôn cho thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Dù ông T không đồng ý ly hôn với lý do còn thương yêu vợ con, nhưng qua những lời trình bày của cả hai cho thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, xét thấy tình trạng hôn nhân của bà Đinh Thị Ngọc H và ông Trần Đăng T đã trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.
Về con chung: Bà Đinh Thị Ngọc H và ông Trần Đăng T xác nhận có hai con chung là Trần Đăng Đ và Trần Đăng T1. Các cháu đã đủ tuổi trưởng thành, có công việc và thu nhập ổn định. Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung. Hội đồng xét xử không xem xét đến.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Đinh Thị Ngọc H và ông Trần Đăng T đều xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung. Hội đồng xét xử không xem xét đến.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bà Đinh Thị Ngọc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Khoản 3 Điều 36; Khoản 1 Điều 39; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Đinh Thị Ngọc H. Tuyên bố Bà Đinh Thị Ngọc H và ông Trần Đăng T được ly hôn. Quan hệ hôn nhân theo Giấy chứng nhận kết hôn số 143, quyển số 02/2002 ngày 06/12/2002 chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về án phí: Buộc bà Đinh Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Căn cứ biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003096 ngày 17/6/2025 tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện Đơn Dương (Nay là Phòng thi hành án Dân sự Khu vực 2 – Lâm Đồng), bà Đinh Thị Ngọc H đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng;
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- VKSND Tỉnh Lâm Đồng;
- VKSND Khu vực 2 – Lâm Đồng;
- Phòng THA dân sự Khu vực 2 – Lâm Đồng;
- UBND xã Ka Đô;
- Các đương sự.
- Lưu HS, AV.
Lê Thị Kim Ngân THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị Kim Ngân
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; - VKSND Tỉnh Lâm Đồng; - VKSND Khu vực 2 – Lâm Đồng; - Phòng THA dân sự Khu vực 2 – Lâm Đồng; - UBND xã Ka Đô; - Các đương sự. - Lưu HS, AV. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thị Kim Ngân THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Kim Ngân |