vanban.org

Bản án 10/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị B và anh Đinh Công M.

Về con chung: Chị Phạm Thị B và anh Đinh Công M có 01 con chung là cháu Đinh Tuệ N, sinh ngày 17/10/2023. Giao cháu Đinh Tuệ N cho chị Phạm Thị B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục kể từ khi chấm dứt quan hệ hôn nhân cho đến khi cháu N thành niên. Anh Đinh Công M không phải cấp dưỡng nuôi con … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị B - Dinh Công M"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị B và anh Đinh Công M.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH THỦY
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST
Ngày 05-05-2025
V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH THỦY, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Thuỷ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đoàn Hồng Canh

2. Ông Nguyễn Thành Lâm

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Như Quỳnh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.

Trong ngày 05 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 04/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2025 về tranh chấp “Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị B, sinh năm 2004

HKTT: Khu 19, xã T, huyện T, tỉnh P

Chỗ ở hiện nay: Khu 12, xã Đ, huyện T, tỉnh P.

Bị đơn: Anh Đinh Công M, sinh năm 2000

HKTT: Khu 19, xã T, huyện T, tỉnh P

Chỗ ở hiện nay: Tổ 5, phường G, thị trấn Q, huyện M, thành phố H.

(Chị B và anh M đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo tại Tòa án: Nguyên đơn chị Phạm Thị B trình bày:

Chị kết hôn với anh Đinh Công M ngày 10/3/2023, hôn nhân do hai bên hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh P. Sau khi kết hôn anh chị sống chung. Trong thời gian chung sống hai bên luôn bất đồng quan điểm sống, bất đồng về kinh tế, hai bên thường xuyên xảy ra cãi vã, xô sát. Đến tháng 8/2024 thì chị và anh M sống ly thân. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Toà án giải quyết cho ly hôn anh Đinh Công M.

Về con chung: Chị xác định vợ chồng có 1 con chung là cháu Đinh Tuệ N, sinh ngày 17/10/2023.

Ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N và không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung, cho vay và công sức đóng góp: Chị xác định không có, không đề nghị Toà án giải quyết.

Bị đơn anh Đinh Công M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh kết hôn với chị Phạm Thị B ngày 10/3/2023, hôn nhân do 2 bên hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh P. Sau khi kết hôn vợ chồng có sống chung, cuộc sống hoà thuận vui vẻ và hạnh phúc. Đến năm 2024, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do 2 bên bất đồng về quan điểm sống, tính cách, suy nghĩ, và không tìm được tiếng nói chung. Hiện nay anh chị đã sống ly thân. Nay anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, vì vậy chị B có đơn xin ly hôn anh, anh đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh xác định vợ chồng có 01 con chung là cháu Đinh Tuệ N, sinh ngày 17/10/2023. Hiện nay cháu N đang ở với chị B, và cháu còn nhỏ vì vậy anh đồng ý để chị B trực tiếp nuôi dưỡng cháu N. Anh không cấp dưỡng nuôi con do chị B không yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp và các vấn đề khác: Anh đề nghị tự thoả thuận, không đề nghị Toà án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về tố tụng:

Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ, do đó Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ. Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Căn cứ vào quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc trường hợp không hòa giải được.

Nguyên đơn và bị đơn có đơn đề nghị xin được xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo thủ tục chung để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.

Vụ án dân sự không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ không tham gia phiên tòa là đúng quy định.

2. Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị B và anh Đinh Công M kết hôn với nhau ngày 10/3/2023, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh P. Đây một hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa chị B và anh M đã xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, không cùng nhau đoàn kết xây dựng hạnh phúc gia đình. Nay chị B xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh M, anh M đồng ý ly hôn với chị B. Hội đồng xét xử xét thấy, hai bên không có biện pháp hàn gắn tình cảm, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm hai bên đã hết, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình, xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị B và anh Đinh Công M.

Về con chung: Chị Phạm Thị B và anh Đinh Công M có 01 con chung là cháu Đinh Tuệ N, sinh ngày 17/10/2023. Chị B có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N và không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con chung. Anh M đồng ý để chị B trực tiếp nuôi dưỡng cháu N và không cấp dưỡng nuôi con do chị B không yêu cầu.

Vì vậy, Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận giữa chị Phạm Thị B và anh Đinh Công M, giao cháu Đinh Tuệ N cho chị Phạm Thị B trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Đinh Công M không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Phạm Thị B không yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung, tài sản cho vay và công sức đóng góp: Chị Phạm Thị B và anh Đinh Công M đều không yêu cầu. Do vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết trong vụ án này. Sau khi ly hôn, nếu các bên có yêu cầu Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ án khác.

[2.4] Về án phí: Chị Phạm Thị B và anh Đinh Công M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm; do các bên thỏa thuận được việc giải quyết vụ án nên chỉ phải chịu 50% án phí.

Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị B và anh Đinh Công M được quyền kháng cáo bản án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 55; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án;

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị B và anh Đinh Công M.

2. Về con chung: Chị Phạm Thị B và anh Đinh Công M có 01 con chung là cháu Đinh Tuệ N, sinh ngày 17/10/2023. Giao cháu Đinh Tuệ N cho chị Phạm Thị B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục kể từ khi chấm dứt quan hệ hôn nhân cho đến khi cháu N thành niên.

Anh Đinh Công M không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị B vì chị B không yêu cầu.

Anh Đinh Công M có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung, tài sản cho vay và công sức đóng góp: Không đặt ra giải quyết trong vụ án này. Sau khi ly hôn, nếu các bên có yêu cầu, Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ án khác.

4. Về án phí: Chị Phạm Thị B phải chịu 75.000 đồng (Bảy mươi lăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0003976 ngày 15/01/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ. Trả lại cho chị Phạm Thị B 225.000 đồng (Hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng). Anh Đinh Công M phải chịu 75.000 đồng (Bảy mươi lăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị B và anh Đinh Công M vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp Bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án, cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ