vanban.org

Bản án 10/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Vương Đình T đối với chị Mai Nguyễn Quỳnh L.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Vương Đình T được ly hôn với chị Mai Nguyễn Quỳnh L. Về con chung: Giao con chung Vương Đình Tuấn Anh sinh ngày 11/02/2015 cho chị Mai Nguyễn Quỳnh L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và giao con chung Vương Đình Tuấn Hưng sinh ngày 27/11/2019 cho anh Vương… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Vương Đình T đối với chị Mai Nguyễn Quỳnh L.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Q
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 23/01/2025
V/v: tranh chấp ly hôn, nuôi con
chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Thúy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Viên.

2. Ông Nguyễn Văn T.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Q.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cúc - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Q, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 238/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/QĐST-HNGĐ ngày 06/01/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Vương Đình T, sinh năm 1992. Đăng kí HKTT và nơi ở: Xóm Đầm, thôn 4, xã Tân Hòa (nay là xã Cộng Hòa), huyện Q, thành phố Hà Nội. Có mặt.

- Bị đơn: Chị Mai Nguyễn Quỳnh L, sinh năm 1994. Đăng kí HKTT tại: Xóm Đầm, thôn 4, xã Tân Hòa (nay là xã Cộng Hòa), huyện Q, thành phố Hà Nội. Nơi ở: không rõ địa chỉ. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn là anh Vương Đình T trình bày như sau:

Anh và chị Mai Nguyễn Quỳnh L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 16 tháng 7 năm 2014 tại Ủy ban nhân dân phường Chính Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc dù thỉnh thoảng cũng có cãi nhau. Từ khi dịch Covid – 19 xuất hiện vào năm 2020 khiến cuộc sống của gia đình khó khăn hơn kéo theo đó mâu thuẫn giữa hai vợ chồng xảy ra nhiều hơn, thường xuyên có những cuộc cãi vã. Đến năm 2022 thì anh và người con thứ hai quay về ở cùng với bố mẹ đẻ anh tại xã Tân Hòa, huyện Q, thành phố Hà Nội. Chị L và người con đầu thì vẫn sinh sống tại Đà Nẵng. Cũng từ đó hai vợ chồng anh không còn liên lạc với nhau nữa. Hiện chị L sinh sống và làm việc ở đâu anh cũng không biết, bố mẹ đẻ của chị L cũng không biết. Thỉnh thoảng chị L có liên lạc với người con đầu của anh chị hiện đang ở với ông bà ngoại. Anh không chủ động liên lạc được với chị L, khi nào cần gì thì chị L mới liên lạc với anh. Trong một lần chị L liên lạc thì anh có nói chuyện làm thủ tục ly hôn tại Tòa án và chị L đã gửi cho anh bản photo hộ chiếu của chị ấy về qua đường bưu điện, thấy trên phong bì thể hiện nơi gửi ở thành phố Hồ Chí Minh nhưng không có địa chỉ cụ thể. Nay anh xác định không còn tình cảm vợ chồng với chị L, không mong muốn đoàn tụ nên từ chối tham gia hòa giải, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị L.

Về con chung: Anh và chị L có hai con chung là Vương Đình Tuấn Anh sinh ngày 11/02/2015 và Vương Đình Tuấn Hưng sinh ngày 27/11/2019. Khi ly hôn, anh mong muốn hai con tiếp tục được sống như hiện nay, là con lớn Vương Đình Tuấn Anh do chị L nuôi dưỡng còn con thứ hai Vương Đình Tuấn Hưng vẫn ở cùng với anh vì anh không muốn làm xáo trộn cuộc sống của các con. Hơn nữa cháu Vương Đình Tuấn Anh cũng mong muốn được tiếp tục ở với ông bà ngoại. Thời gian qua cháu phát triển rất tốt về mọi mặt. Bố mẹ chị L cũng có ý kiến để cháu Tuấn Anh sống với ông bà vì chị L đã gửi gắm cháu cho ông bà chăm sóc.

Về tài sản chung và công nợ chung: Anh xác định vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là chị Mai Nguyễn Quỳnh L hiện không cư trú tại nơi đăng ký thường trú ở xóm Đầm, thôn 4, xã Tân Hòa (nay là xã Cộng Hòa), huyện Q, thành phố Hà Nội. Anh T không biết địa chỉ hiện nay cũng như không thể liên lạc được với chị L. Bố mẹ chị L có văn bản nêu ý kiến của mình gửi Tòa án nhưng không cung cấp địa chỉ của chị cho Tòa án. Do đó Tòa án đã thực hiện việc niêm yết các văn bản tố tụng đối với chị L.

Tại phiên tòa:

- Anh T vẫn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện như đã trình bày. Về cấp dưỡng nuôi con anh không đề nghị gì, còn thực tế từ trước đến nay anh vẫn gửi tiền cho bố mẹ chị L để chăm nom cháu Vương Đình Tuấn Anh.

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã theo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn cơ bản đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.

+ Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Đề nghị: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của anh Vương Đình T. Giao cháu Tuấn Anh cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giao cháu Tuấn Hưng cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho các đương sự. Về tài sản chung, công nợ chung không có nên không xem xét. Anh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Anh Vương Đình T khởi kiện xin ly hôn với chị Mai Nguyễn Quỳnh L có đăng kí hộ khẩu thường trú tại xóm Đầm, thôn 4, xã Tân Hòa (nay là xã Cộng Hòa), huyện Q, thành phố Hà Nội nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Q theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Do chị L không cư trú tại nơi đăng kí hộ khẩu thường trú, anh T và gia đình chị L không cung cấp được địa chỉ hiện nay của chị nên thuộc trường hợp giấu địa chỉ. Chị L còn thông báo cho bố mẹ chị biết việc Tòa án nhân dân huyện Q đang giải quyết yêu cầu xin ly hôn của anh T đối với chị. Tuy nhiên, chị L không gửi đến Tòa án văn bản trình bày ý kiến của mình. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Vương Đình T kết hôn với chị Mai Nguyễn Quỳnh L trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 16 tháng 7 năm 2014 tại Ủy ban nhân dân phường Chính Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Xác định đây là hôn nhân hợp pháp.

Căn cứ lời khai của anh T, ý kiến của hai bên gia đình cho thấy mấy năm nay hai anh chị không còn chung sống, không liên lạc và không quan tâm đến nhau nữa. Điều đó cho thấy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên việc ly hôn là cần thiết. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T đối với chị L.

- Về con chung: Anh chị có hai con chung là Vương Đình Tuấn Anh sinh ngày 11/02/2015 và Vương Đình Tuấn Hưng sinh ngày 27/11/2019. Từ khi vợ chồng ly thân vào năm 2022 đến nay, mỗi người nuôi một con. Nay vợ chồng ly hôn, anh T mong muốn để cho cháu Vương Đình Tuấn Anh được tiếp tục sinh sống với chị L và ông bà ngoại. Do chị L đi làm ăn ở xa nên thực tế là bố mẹ chị L đang chăm nuôi cháu. Tuy nhiên, ông bà và bản thân cháu Tuấn Anh cũng mong muốn để cháu được tiếp tục sống cùng với ông bà. Cháu Vương Đình Tuấn Hưng vẫn do anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, để đảm bảo sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục của các cháu, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Tuấn Anh cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giao cháu Tuấn Hưng cho anh T trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu thành niên hoặc khi có quyết định thay đổi khác. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh T, chị L đến khi các cháu thành niên hoặc khi có quyết định thay đổi khác. Anh chị có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục các con chung, không ai được cản trở.

- Về tài sản chung và công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Anh T phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm .

. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 01/2024/NQ- HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Vương Đình T đối với chị Mai Nguyễn Quỳnh L.

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Vương Đình T được ly hôn với chị Mai Nguyễn Quỳnh L.

2. Về con chung: Giao con chung Vương Đình Tuấn Anh sinh ngày 11/02/2015 cho chị Mai Nguyễn Quỳnh L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và giao con chung Vương Đình Tuấn Hưng sinh ngày 27/11/2019 cho anh Vương Đình T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, cho đến khi các con chung thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc khi có quyết định thay đổi khác. Anh Vương Đình T và chị Mai Nguyễn Quỳnh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục các con chung mà không ai được cản trở.

Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh T và chị L đến khi các con chung thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc khi có quyết định thay đổi khác.

3. Về tài sản chung và công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

4. Về án phí: Anh Vương Đình T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0020273 ngày 02/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Q, thành phố Hà Nội.

5. Về quyền kháng cáo: Anh Vương Đình T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Mai Nguyễn Quỳnh L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND huyện Q;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- Chi cục THADS huyện Q;

- Các đương sự;

- UBND p.Chính Gián, q.Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng (số đăng kí kết hôn 97/2014);

Đào Thị Thúy

- Lưu:hồ sơ vụ án; VPTA;

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Hướng dẫn sử dụng mẫu số 52-DS:

Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự. Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Toà án khi xét xử sơ thẩm các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.

Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án sơ thẩm kèm theo:

(1) Nếu là Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi rõ tên Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Toà án nhân dân huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội); nếu là Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi Toà án nhân dân tỉnh (thành phố) đó (ví dụ: Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam).

(2) Ô thứ nhất ghi số bản án, ô thứ hai ghi năm ra bản án, ô thứ ba ghi ký hiệu loại bản án (ví dụ: Nếu là bản án giải quyết tranh chấp về dân sự năm 2017 có số 100 thì ghi: “Số:100/2017/DS-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình năm 2017 có số 108 thì ghi: “Số:108/2017/HNGĐ-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại năm 2017 có số 110 thì ghi: “Số:110/2017/KDTM-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về lao động năm 2017 có số 115 thì ghi: “Số:115/2017/LĐ-ST”).

(3) Ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày.

(4) Ghi quan hệ tranh chấp mà Tòa án giải quyết: Cần xác định tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết được quy định tại Điều, khoản nào của Bộ luật tố tụng dân sự, để ghi vào phần trích yếu của bản án (ví dụ: Tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết là tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân được quy định tại khoản 1 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự thì ghi: “tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân”).

(5) Ghi như hướng dẫn tại điểm (1).

(6) Nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà, bỏ dòng “Thẩm phán...”, đối với Hội thẩm nhân dân chỉ ghi họ tên của hai Hội thẩm nhân dân; nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân. Cần chú ý là không ghi chức vụ của Thẩm phán; chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân.

(7) Ghi họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).

(8) Nếu có Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên toà thì ghi như hướng dẫn tại điểm (1) song đổi các chữ “Toà án nhân dân” thành “Viện kiểm sát nhân dân”.

(9) Trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ “Trong các” (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi “Trong các ngày” (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi: “Từ ngày đến ngày” (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).

(10) Nếu xét xử kín thì thay cụm từ “công khai” bằng từ “kín”.

(11) Ô thứ nhất ghi số thụ lý, ô thứ hai ghi năm thụ lý và ô thứ ba nếu là tranh chấp về dân sự thì ghi “DS”; nếu là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thì ghi “HNGĐ”; nếu là tranh chấp về kinh doanh, thương mại thì ghi “KDTM”; nếu là tranh chấp về lao động thì ghi “LĐ” (ví dụ: số 18/2017/TLST-HNGĐ).

(12) Ghi như hướng dẫn tại điểm (4).

(13) Nguyên đơn là cá nhân thì ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên). Nguyên đơn là cơ quan, tổ chức thì ghi tên cơ quan, tổ chức và địa chỉ của cơ quan, tổ chức đó.

(14) Chỉ ghi khi có người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và ghi họ tên, địa chỉ cư trú; ghi rõ là người đại diện theo pháp luật hay là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn; nếu là người đại diện theo pháp luật thì cần ghi chú trong ngoặc đơn quan hệ giữa người đó với nguyên đơn; nếu là người đại diện theo uỷ quyền thì cần ghi chú trong ngoặc đơn: “văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...”.

Ví dụ 1: Ông Nguyễn Văn A trú tại... là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn (Giám đốc Công ty TNHH T Lợi).

Ví dụ 2: Bà Lê Thị B trú tại... là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn (Văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...).

(15) Chỉ ghi khi có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là Luật sư thì ghi là Luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào); nếu có nhiều nguyên đơn thì ghi cụ thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn nào.

(16) và (19) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (13).

(17) và (20) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (14).

(18) và (21) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (15).

(22) Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên).

(23) Ghi họ tên, chức danh, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú).

(24) Ghi họ tên, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú).

(25) Trong phần này ghi rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, của cơ quan, tổ chức, cá nhân; yêu cầu phản tố, đề nghị của bị đơn; yêu cầu độc lập, đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; ý kiến của Viện kiểm sát; ghi ngắn gọn, đầy đủ các tài liệu, chứng cứ, tình tiết của vụ án; ghi rõ các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh, các tình tiết mà các bên đã thống nhất, không thống nhất; đối với các tình tiết của vụ án mà các bên không thống nhất thì phải ghi rõ lý lẽ, lập luận của từng bên đương sự.

(26) Ghi nhận định của Tòa án về những vấn đề cần phải giải quyết trong vụ án (về áp dụng pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung). Tòa án phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh giá, nhận định đầy đủ, khách quan về chứng cứ và những tình tiết của vụ án; phân tích, viện dẫn những căn cứ pháp luật, án lệ (nếu có) để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu, đề nghị của đương sự; yêu cầu, đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (nếu có); yêu cầu, đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát (nếu có); giải quyết các vấn đề khác có liên quan. Nếu vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật tố tụng dân sự thì tùy từng trường hợp mà Tòa án phân tích, lập luận về việc áp dụng tập quán, tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng.

Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ tự trong dấu [ ].

(27) Tùy từng trường hợp mà ghi rõ các căn cứ pháp luật để ra quyết định.

(28) Ghi các quyết định của Tòa án về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo đối với bản án; trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì phải ghi rõ quyết định đó. Đối với trường hợp xét xử sơ thẩm lại vụ án mà bản án, quyết định đã bị hủy một phần hoặc toàn bộ theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm thì ghi vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành (nếu có) theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng bị hủy; trường hợp có quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự thì phải ghi rõ nội dung về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án.

(29) Phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi rõ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát thì ghi như sau:

Cỡ chữ