vanban.org

Bản án 10/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Nguyễn Bảo Đ.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đoàn Nguyễn Bảo Đ được ly hôn với anh Trần Ngọc D. 2/ Về con chung: Giao cháu Trần Đoàn Gia H, sinh ngày 30/3/2020, cho chị Đoàn Nguyễn Bảo Đ tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: do người trực tiếp nuôi dưỡng không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đoàn Nguyễn Bảo Đ ly hôn, nuôi con với Trần Ngọc D"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Nguyễn Bảo Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MANG THÍT
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HNGĐ – ST
Ngày: 12 - 02 - 2025
“V/v ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trí Trường

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Phẩm

Ông Lê Thành Tam

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hoàng Cúc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Thít.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít tham gia phiên tòa: Ông Lê Hiển Đạt – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 266/2024/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2024, về tranh chấp: “ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2024/QĐXX – ST, ngày 30 tháng 12 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 14 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Đoàn Nguyễn Bảo Đ, sinh năm 1998 (có mặt)

Địa chỉ: ấp PT, xã QT, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

* Bị đơn: Anh Trần Ngọc D, sinh năm: 1997 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp PTB, xã NP, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ngày 11/8/2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đoàn Nguyễn Bảo Đ trình bày:

- Nguyên vào năm 1998, chị và anh Trần Ngọc D do quen biết tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán, có đăng ký kết hôn tại UBND xã QT, huyện V, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 19/11/2019 đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 76.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, hòa thuận tại tỉnh Long An để đi làm thuê. Đến cuối năm 2023, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng nên tình cảm vợ chồng phai nhạt, mâu thuẩn kéo dài và nghiêm trọng, dẫn đến mục đích hôn nhân không đạt được, nên anh chị đã ly thân đến nay. Chị cảm thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn lại được nên chị yêu cầu ly hôn với anh Trần Ngọc D.

- Con chung: quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Trần Đoàn Gia H, sinh ngày 30/3/2020; khi ly hôn, chị Đ xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.

- Tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Nợ chung phải thu, phải trả: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Trần Ngọc D đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Đoàn Nguyễn Bảo Đ giữ nguyên ý kiến, yêu cầu khởi kiện và trình bày: Khi tôi khởi kiện thì anh D biết được thủ tục Tòa án đã gửi cho mẹ chồng. Bên chồng có nói với chị là anh D biết nhưng không về. Về nguyên nhân mâu thuẩn vợ chồng là do anh D ăn chơi, nợ nần, cờ bạc; sau khi kết hôn, chúng tôi thuê nhà ở tỉnh Long An để đi làm, mâu thuẩn bắt đầu do anh D nợ nần, tôi đã trả nợ cho anh D nhưng anh không sửa đổi; tháng 5 năm 2024 anh D bỏ đi, tôi không liên lạc được. Tôi yêu cầu nuôi con, không yêu cầu anh D cấp dưỡng, không yêu cầu giải quyết tài sản chung vì không có.

Bị đơn anh Trần Ngọc D vắng mặt không có lời trình bày.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán; thư ký Hội đồng xét xử và nguyên đơn chấp hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn vắng mặt, vi phạm nghĩa vụ tại Điều 70, Điều 72,BLTTDS.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

+ Xử cho chị Đoàn Nguyễn Bảo Đ được ly hôn với anh Trần Ngọc D.

+ Về nuôi con: giao cháu Trần Đoàn Gia H, sinh ngày 30/3/2020 cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: do người trực tiếp nuôi dưỡng không yêu cầu nên không giải quyết.

+ Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

+ Về án phí: chị Đoàn Nguyễn Bảo Đ phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Đoàn Nguyễn Bảo Đ khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với anh Trần Ngọc D. Do đó, quan hệ tranh chấp được Tòa án xem xét giải quyết là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”; bị đơn anh Trần Ngọc D có nơi cư trú tại ấp PTB, xã NP, huyện M, tỉnh Vĩnh Long nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long. Bị đơn Trần Ngọc D đã được tống đạt văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nhiều lần, căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2019, chị Đoàn Nguyễn Bảo Đ và anh Trần Ngọc D xây dựng hôn nhân với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã QT, huyện V, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 19/11/2019 đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 76. Vì vậy quan hệ hôn nhân giữa chị Đ, anh D là hôn nhân hợp pháp.

Về mâu thuẩn vợ chồng: Chị Đ cho rằng vợ chồng sống hòa thuận được thời gian đầu đến cuối năm 2023, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, mâu thuẩn ngày càng trầm trọng, dẫn đến mục đích hôn nhân không đạt được. Nguyên nhân là do anh chị luôn bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau, hiện hai bên đã ly thân, không còn chung sống với nhau. Anh D đã được Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Đ nhưng vắng mặt không có lý do. Theo lời trình bày chị Đ, hiện nay tình trạng vợ chồng của chị Đ và anh D đã thiếu đi sự chăm sóc lẫn nhau là đã vi phạm Điều 19 Luật hôn nhân gia đình. Cho thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Đ và anh D đã mâu thuẩn trầm trọng, không thể hàn gắn được. Do đó, chị Đ yêu cầu ly hôn với anh D là có căn cứ.

Về con chung: cháu Trần Đoàn Gia H, sinh ngày 30/3/2020, Hiện cháu H đang sinh sống ổn định với chị Đ nên giao cháu H cho chị Đoàn tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: do người trực tiếp nuôi dưỡng không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Quyền và nghĩa vụ về tài sản chung, nợ chung: đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: chị Đ phải nộp án phí hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.

Quan điểm Kiểm sát viên tại phiên tòa được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 80, Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Nguyễn Bảo Đ.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đoàn Nguyễn Bảo Đ được ly hôn với anh Trần Ngọc D.

2/ Về con chung: Giao cháu Trần Đoàn Gia H, sinh ngày 30/3/2020, cho chị Đoàn Nguyễn Bảo Đ tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: do người trực tiếp nuôi dưỡng không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bên không trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung không ai được quyền ngăn cản. Bên trực tiếp nuôi dưỡng con chung và những người thân trong gia đình có nghĩa vụ tạo điều kiện thuận lợi cho bên không trực tiếp nuôi dưỡng được thực hiện quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung.

3/ Quyền và nghĩa vụ về tài sản chung, nợ phải thu, phải trả: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

4/ Về án phí: chị Đoàn Nguyễn Bảo Đ phải nộp phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) từ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít theo lai thu số N0 0006089 ngày 15 tháng 11 năm 2024.

Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết hợp lệ./.

Cỡ chữ