vanban.org

Bản án 10/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử cho anh Nguyễn Hữu C được ly hôn chị Nguyễn Thị L.

Về nuôi con chung: Xử giao con chung Nguyễn Thị Thảo L, sinh ngày 09/6/2013 cho chị Nguyễn Thị L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; anh Nguyễn Hữu C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Thị Thảo L mỗi tháng 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng), kể từ tháng 5 năm 2025 đến khi con c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Hữu Cảm và Nguyễn Thị Luyến"
  • Tòa quyết gì? Xử cho anh Nguyễn Hữu C được ly hôn chị Nguyễn Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỆ THUỶ
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29 - 4 - 2025
“V/v Ly hôn, tranh
chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THUỶ, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thuận Sơn và ông Trương Hải Nam

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thơm, Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thuỷ tham gia phiên tòa: Không.

Trong ngày 29 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 22/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hữu C, sinh năm 1987; Địa chỉ nơi cư trú: Tổ dân phố M, thôn Q, thị trấn N, huyện L, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1988; Địa chỉ nơi cư trú: Tổ dân phố N, thị trấn N, huyện L, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Mặc dù vắng mặt tại phiên tòa, nhưng theo đơn khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con ngày 20/02/2025,hòa giải và bản tự khai ngày 10/3/2025, nguyên đơn anh C trình bày: Anh và chị L yêu nhau và đăng ký kết hôn tự nguyện tại Ủy ban nhân dân thị trấn N vào ngày 19/12/2012. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại nhà bố mẹ anh tại tổ dân phố M thôn Q, thị trấn N, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 02 năm, đến năm 2014 vợ chồng phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân mâu thuẩn do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng về quan điểm sống, không có tiếng nói chung dẫn đến cải vã, xích mích nhau làm tình cảm vợ chồng bị sứt mẽ. Vợ chồng sống ly thân nhau từ năm 2014 cho đến nay, không ai còn quan tâm đến ai. Anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn chị L.

Về con chung: Anh và chị L có một con chung tên là Nguyễn Thị Thảo L, sinh ngày 09/6/2013, hiện đang sinh sống cùng chị L. Sau ly hôn, anh có nguyện vọng giao con chung cho chị L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; anh có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh và chị L không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tham gia giải quyết vụ án tại Toà án: Do điều kiện công việc làm ăn ở xa, việc đi lại gặp nhiều khó khăn nên bản thân anh không thể đến trực tiếp tại Toà án để tham gia giải quyết vụ án. Vì vậy, anh đề nghị Toà án giải quyết, xét xử vắng mặt anh.

* Bị đơn chị Nguyễn Thị L vắng mặt trong các buổi làm việc và tại phiên tòa nhưng theo đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt ngày 04/3/2025, chị trình bày: Về quá trình yêu nhau, kết hôn, chung sống và nguyên nhân mâu thuẩn chị nhất trí như sự trình bày của anh C. Anh C yêu cầu ly hôn, chị nhất trí vì mâu thuẩn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, vợ chồng sống ly thân đã lâu, không còn tình cảm gì với nhau.

Về con chung: Chị và anh C có một con chung Nguyễn Thị Thảo L, sinh ngày 09/6/2013, hiện đang sinh sống cùng chị. Ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng đến khi con đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh C không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tham gia giải quyết vụ án tại Toà án: Do điều kiện công việc làm ăn ở xa, việc đi lại gặp nhiều khó khăn nên bản thân chị không thể đến trực tiếp tại Toà án để tham gia giải quyết vụ án. Vì vậy, chị đề nghị Toà án giải quyết, xét xử vắng mặt chị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn anh Nguyễn Hữu C khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với chị Nguyễn Thị L là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn chị Nguyễn Thị L có nơi cư trú tại tổ dân phố N, thị trấn N, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Do đó, Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Quảng Bình thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, nguyên đơn anh C có mặt nhưng bị đơn vắng mặt không rõ lý do. Tại phiên tòa, cả nguyên đơn, bị đơn đều vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt trong đó nêu ý kiến của mình đối với việc giải quyết nội dung vụ án và lý do đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Căn cứ các Điều 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định của pháp luật.

Về nội dung:

Về yêu cầu ly hôn: Theo trình bày của nguyên đơn và bị đơn thì anh C và chị L đăng ký kết hôn tự nguyện tại UBND thị trấn N, huyện L, tỉnh Quảng Bình vào ngày 19/12/2012, do đó hôn nhân giữa anh C và chị L là hợp pháp. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được khoảng 02 năm thì đến năm 2014 bắt đầu phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng về quan điểm sống, không có tiếng nói chung dẫn đến cải vã, xích mích nhau làm tình cảm vợ chồng bị sứt mẽ. Vợ chồng sống ly thân nhau từ năm 2014 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Hội đồng xét xử thấy, mâu thuẩn giữa anh C và chị L đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, qua xem xét, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu của anh C, xử cho anh C được ly hôn chị L là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Cả nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận vợ chồng có một con chung là Nguyễn Thị Thảo L, sinh ngày 09/6/2013, hiện đang sinh sống cùng chị L. Quá trình giải quyết vụ án, chị L yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, yêu cầu anh C thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng đến khi con đủ 18 tuổi. Anh C đồng ý giao con chung cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng đến khi con đủ 18 tuổi.

Xét thấy, hiện tại con chung Nguyễn Thị Thảo L đang còn nhỏ, từ khi vợ chồng sống ly thân nhau đến nay đều do chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì vậy, cần giao cho chị L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung nhằm mục đích tạo sự ổn định trong sinh hoạt của con; anh C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng kể từ tháng 5 năm 2025 là phù hợp với điều kiện thực tế của nguyên đơn, bị đơn, nguyện vọng của con; phù hợp với Điều 81, 82, 83, 107 và Điều 110 của Luật Hôn nhân và gia đình. Sau này, nếu điều kiện của các bên thay đổi, vì quyền lợi của con chung các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, nợ chung: Cả nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227; Điều 228, Điều 235 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107 và Điều 110 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Xử cho anh Nguyễn Hữu C được ly hôn chị Nguyễn Thị L.

2. Về nuôi con chung: Xử giao con chung Nguyễn Thị Thảo L, sinh ngày 09/6/2013 cho chị Nguyễn Thị L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; anh Nguyễn Hữu C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Thị Thảo L mỗi tháng 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng), kể từ tháng 5 năm 2025 đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Anh Nguyễn Hữu C có quyền, nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Sau này, vì quyền lợi của con chung, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng và yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí:

3.1. Án phí ly hôn: Nguyên đơn anh Nguyễn Hữu C phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Quảng Bình theo biên lai số 0004542 ngày 20/02/2025. (Anh Nguyễn Hữu C đã nộp đủ án phí ly hôn).

3.2. Án phí cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Hữu C phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn anh Nguyễn Hữu C và bị đơn chị Nguyễn Thị L vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử lại theo trình tự phúc thẩm./.

Cỡ chữ