- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xét xử"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Tú H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 170 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐẮK NÔNG Bản án số: 10/2025/HNGĐ - ST Ngày: 18 - 03 - 2025 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hà,
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Sỹ Thông và ông Nguyễn Tiến Tịnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Trung – Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên tòa: Bà Lại Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 185/2024/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2025, quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/QĐST- HNGĐ ngày 28/02/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Tú H, sinh năm 1985 - Có mặt.
Địa chỉ: Thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Duy S, sinh năm 1975 - Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông
Người tham gia tố tụng khác: Không
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 19/9/2024, cũng như quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa bà Nguyễn Thị Tú H trình bày: Bà Nguyễn Thị Tú H và ông Nguyễn Duy S có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân (UBND) xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông vào ngày 04/11/2003, việc đăng ký kết hôn hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc, lừa dối. Quá trình chung sống bà H và ông S có 05 con chung là Nguyễn Duy Q, sinh năm 2005, Nguyễn Nữ Hồng D, sinh năm 2006, Nguyễn Thị Khánh T, sinh ngày 15/01/2012, Nguyễn Anh T1, sinh ngày 23/02/2014 và Nguyễn Thảo N, sinh ngày 01/02/2015. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do hai bên không cùng quan điểm, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không hòa thuận, hiện nay đã sống ly thân. Vì vậy, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H viết đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các mối quan hệ trên như sau:
Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Tú H xin được ly hôn với ông Nguyễn Duy S.
Về con chung: Tại biên bản hòa giải ngày 30/12/2024 bà Nguyễn Thị Tú H và ông Nguyễn Duy S thỏa thuận giao 03 con chung là Nguyễn Thị Khánh T, sinh ngày 15/01/2012, Nguyễn Anh T1, sinh ngày 23/02/2014 và Nguyễn Thảo N, sinh ngày 01/02/2015 cho bà H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) nên yêu cầu Tòa án công nhận sự thỏa thuận này.
Đối với Nguyễn Duy Q, sinh năm 2005 và Nguyễn Nữ Hồng D, sinh năm 2006 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về cấp dưỡng: Tại đơn khởi kiện bà H yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung là 3.000.000 đồng/ 03 con chung cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Tuy nhiên, ngày 30/12/2024 bà H làm đơn rút đối với yêu cầu này, việc rút bà H tự nguyện nên mong HĐXX xem xét.
Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Duy S trình bày trong quá trình giải quyết vụ án: Lời trình bày của bà H về quan hệ hôn nhân và con chung là đúng, ông S không bổ sung gì. Tuy nhiên, về mâu thuẫn vợ chồng ông S cho rằng còn tình cảm với bà H, chưa đến mức trầm trọng để ly hôn, ông S mong bà H rút đơn xin ly hôn để về vợ chồng đoàn tụ, nuôi dưỡng con chung. Lý do bà H ly hôn là do ông S hay uống rượu say về to tiếng với vợ con, trước đây thỉnh thoảng có đánh vợ, đánh con, nhưng từ ngày bà H viết đơn xin ly hôn đến nay ông S đã sửa đổi được phần nào nên nay ý kiến ông S yêu cầu Tòa án giải quyết các mối quan hệ trên như sau:
- Về hôn nhân: Ông Nguyễn Duy S xin đoàn tụ, không đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Đã thỏa thuận với bà H tại biên bản hòa giải ngày 30/12/2024 là giao 03 con chung là Nguyễn Thị Khánh T, sinh ngày 15/01/2012, Nguyễn Anh T1, sinh ngày 23/02/2014 và Nguyễn Thảo N, sinh ngày 01/02/2015 cho bà H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà H đã rút yêu cầu, ông S không có ý kiến gì.
- Về tài sản chung và nợ chung: Anh Nguyễn Duy S không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Ý kiến các con chung của bà H và ông S: Tại các biên bản lấy lời khai ngày 24/12/2024 của Nguyễn Thị Khánh T, sinh ngày 15/01/2012, Nguyễn Anh T1, sinh ngày 23/02/2014 và Nguyễn Thảo N, sinh ngày 01/02/2015 (có bà H là người giám hộ) trình bày: Trường hợp bà H và ông S ly hôn thì nguyện vọng các con chung là xin được ở với bà H.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự và việc giải quyết vụ án:
- Về tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành tốt quá trình tham gia tố tụng. Bị đơn không chấp hành việc tham gia tố tụng tại phiên tòa theo quy định của BLTTDS.
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ quy định tại Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình, khoản 4 Điều 147 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 đề nghị HĐXX: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Tú H về việc ly hôn với ông Nguyễn Duy S.
Về con chung: Đề nghị giao các cháu Nguyễn Khánh T, sinh ngày 15/01/2012, Nguyễn Anh T1, sinh ngày 23/02/2014, Nguyễn Thảo N, sinh ngày 01/02/2015 cho bà H nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi trưởng thành.
Đình chỉ 1 phần yêu cầu khởi kiện của bà H về việc buộc ông S cấp dưỡng 3.000.000 đồng/tháng/3 cháu cho đến khi đủ 18 tuổi trưởng thành.
- Về án phí: Đề nghị buộc nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng.
Những yêu cầu kiến nghị khắc phục: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết qủa tranh tụng, Tòa án nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Ngày 19/9/2024 bà Nguyễn Thị Tú H có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết xin ly hôn với ông Nguyễn Duy S và yêu cầu giải quyết con chung, cấp dưỡng nuôi con chung. Vì vậy, quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn hiện đang cư trú tại Thôn X, xã Đ, huyện Đ. Vì vậy, Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc chấp hành pháp luật của bị đơn: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để bị đơn tham gia phiên tòa. Tuy nhiên, bị đơn không có mặt theo quy định của pháp luật. Vì vậy, Tòa án căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) xét xử vắng mặt bị đơn. Việc bị đơn không chấp hành pháp luật được coi tự ý từ bỏ quyền được tham gia tố tụng, quyền tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình quy định tại Điều 70, Điều 72 của BLTTDS.
Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Tú H, sinh năm 1985 và ông Nguyễn Duy S, sinh năm 1975 có đăng ký kết hôn vào ngày 04/11/2003, tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Khi kết hôn cả hai bên đều tự nguyện, không bị ai ép buộc, lừa dối. Vào thời điểm kết hôn, bà H và ông S đều đã đủ tuổi kết hôn. Tuy nhiên, căn cứ giấy kết hôn số 49, quyển số 01/2003 thì tên chồng ông Nguyễn Duy S, sinh ngày 04/12/1977, tại các giấy khai sinh của các con chung thì thể hiện ông Nguyễn Duy S, sinh năm 1975; Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx ông Nguyễn Duy S, sinh năm 1975. Qua kiểm tra trên Hệ thống dữ liệu Quốc gia về dân cư tại Công an xã Đ thể hiện: Bà Nguyễn Thị Tú H, sinh năm 1985 và ông Nguyễn Duy S, sinh năm 1975 là vợ chồng; ngoài giấy chứng nhận kết hôn thể hiện ông S sinh năm 1977 thì không có thông tin cá nhân nào thể hiện ông S sinh năm 1977, tất cả các giấy tờ tùy thân đều thể hiện ông S sinh năm 1975. Do đó, Tòa án căn cứ các giấy tờ khác thể hiện ông Nguyễn Duy S và bà H là vợ chồng, có nghĩa là ông S sinh năm 1977 và ông S sinh năm 1975 là một người. Vì vậy, căn cứ nguyên nhân ly hôn là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vả, xô xát, không hợp nhau, đã ly thân. Xác minh trình trạng hôn nhân tại địa phương thể hiện: Tòa án căn cứ lời khai của các đương sự để giải quyết, không nắm được thông tin gì khác. HĐXX xét thấy, hiện nay các bên đã ly thân, không chung sống với nhau nên trình trạng hôn nhân đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào trình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của bà H là có căn cứ.
Xét quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông S là hợp pháp được quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của bà H là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H.
. Về con chung: Tại biên bản hòa giải ngày 30/12/2024 bà H và ông S đã thỏa thuận được với nhau về việc nuôi con chung, HĐXX xét thấy việc thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không trái pháp luật, phù hợp với nguyện vọng các con chung nên Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về nội dung này, cụ thể: Giao 03 con chung là Nguyễn Thị Khánh T, sinh ngày 15/01/2012, Nguyễn Anh T1, sinh ngày 23/02/2014 và Nguyễn Thảo N, sinh ngày 01/02/2015 cho bà Nguyễn Thị Tú H trông nom, chăm sóc, nuôi dương và giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Đối với Nguyễn Duy Q, sinh năm 2005 và Nguyễn Nữ Hồng D, sinh năm 2006 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Tú H đã rút yêu cầu về cấp dưỡng nên HĐXX đình chỉ đối với yêu cầu này.
Các bên đương sự được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở quyền này. Trường hợp một trong các bên lạm dụng quyền thăm nom để gây cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con.
Hai bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết
. Về tài sản chung, nợ chung: Hai bên đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil là phù hợp nên chấp nhận.
. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Tú H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng),được khấu trừ vào số tiền bà H đã nộp tạm ứng án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 170, Điều 173, Điều 174, Điều 177, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 246, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 8, 9, 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 /UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Tuyên xử:
Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Tú H.
[1] Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Tú H được ly hôn với ông Nguyễn Duy S;
[2] Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của bà Nguyễn Thị Tú H và ông Nguyễn Duy S, giao 03 con chung là Nguyễn Thị Khánh T, sinh ngày 15/01/2012, Nguyễn Anh T1, sinh ngày 23/02/2014 và Nguyễn Thảo N, sinh ngày 01/02/2015 cho bà Nguyễn Thị Tú H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Đối với Nguyễn Duy Q, sinh năm 2005 và Nguyễn Nữ Hồng D, sinh năm 2006 đã trưởng thành (trên 18 tuổi) nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Đình chỉ đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung của bà Nguyễn Thị Tú H
Ông Nguyễn Duy S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự tự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[4] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Tú H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005998 ngày 23 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
[5] Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt, niêm yết bản án hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đ; - VKSND huyện Đắk Mil; - Chi cục THADS huyện Đ; - UBND xã Đ; - Các đương sự; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Hoàng Thị Thu Hà |