vanban.org

Bản án 10/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho chị Võ Thị Chúc L và anh Lữ Thanh S ly hôn.

Về con chung: Chị Võ Thị Chúc L và anh Lữ Thanh S có 02 người con tên Lữ Văn Đ, sinh ngày 26/9/2000 và Lữ Thị Ngọc T, sinh ngày 02/10/2003, hiện nay các con đã trường thành và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về tài sản chung: Chị Võ Thị Chúc L để tự vợ chồng thoả thuận và không yêu cầu g… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "VÕ THỊ CHÚC L - LA THANH S"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Võ Thị Chúc L và anh Lữ Thanh S ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN BIÊN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 07-02-2025
“V/v ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN-TỈNH KIÊN GIANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1- Bà Nguyễn Thanh Nguyên.

2- Bà Trần Thị Mộng Lành.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Việt, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang: Bà Lê Thị Thuỳ Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 02 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 303/2024/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 11 năm 2024 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 250/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 23 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 02/2025/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

1- Nguyên đơn: Chị Võ Thị Chúc L, sinh ngày 01/01/1979 (có mặt).

2- Bị đơn: Anh Lữ Thanh S, sinh ngày 01/01/1965 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 20/02/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Võ Thị Chúc L trình bày và yêu cầu như sau:

Về hôn nhân: Chị Võ Thị Chúc L và anh Lữ Thanh Sữ kết hôn với nhau năm 1999, có tổ chức lễ cưới theo phong tục ở địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tây Yên, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang ngày 28/6/2004. Vợ chồng chung sống rất là hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên thường cự cải nhau, làm cho hạnh phúc gia đình không còn nữa, từ đó vợ chồng đã ly thân với nhau từ năm 2024 cho đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên chị yêu cầu xin ly hôn với anh Lữ Thanh S.

Về con chung: Có 02 người con tên Lữ Văn Đ, sinh ngày 26/9/2000 và Lữ Thị Ngọc T, sinh ngày 02/10/2003, hiện nay các con đã trường thành nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Tự vợ chồng thoả thuận nên không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Tại biên bản hoà giải ngày 23/12/2024bị đơn anh Lữ Thanh S trình bày như sau: Anh thừa nhận về quan hệ hôn nhân và con chung, tài sản và nợ chung là đúng như chị L trình bày nêu trên.

Theo yêu cầu của chị L thì anh có ý kiến như sau:

Về hôn nhân: Anh không đồng ý ly hôn với chị Võ Thị Chúc L.

Về con chung: Hiện nay các con đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Nếu Toà xử cho ly hôn thì tự vợ chồng thoả thuận nên không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay, chị Võ Thị Chúc L vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu như sau:

Về hôn nhân: Chị yêu cầu ly hôn với anh Lữ Thanh S.

Về con chung: Hiện nay cháu Lữ Văn Đ và Lữ Thị Ngọc T đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Tự vợ chồng thoả thuận nên không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Quan điểm của đại viện Viện kiểm sát:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, của Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tuân thủ và chấp hành đúng theo quy định của pháp luật.

Về giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Võ Thị Chúc L xử cho chị Võ Thị Chúc L và anh Lữ Thanh S được ly hôn.

Về con chung: Hiện nay cháu Lữ Văn Đ và Lữ Thị Ngọc T đã trưởng thành và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về tài sản chung: Vợ chồng thoả thuận và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: Chị Võ Thị Chúc L thừa nhận không có nên không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền xét xử: Đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn và bị đơn trong vụ án có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28 điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử là đúng thẩm quyền.

Về thủ tục tố tụng: Đối với anh Lữ Thanh S được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đối với anh Lữ Thanh S.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Chị Võ Thị Chúc L và anh Lữ Thanh S kết hôn với nhau năm 1999 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tây Yên, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang vào ngày 28/6/2004 nên hôn nhân của chị chị L và anh S là hợp pháp.

Về mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, dẫn đến cự cãi nhau, làm cho hạnh phúc gia đình không còn nữa, từ đó vợ chồng đã ly thân cho đến nay, trong thời gian vợ chồng ly thân anh chị và gia định cũng không tự hoà giải với nhau được.

Từ đó, xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Võ Thị Chúc L xử cho chị Võ Thị Chúc L và anh Lữ Thanh S ly hôn là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị Võ Thị Chúc L và anh Lữ Thanh S có 02 người con tên Lữ Văn Đ, sinh ngày 26/9/2000 và Lữ Thị Ngọc T, sinh ngày 02/10/2003, hiện nay các con đã trường thành và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về tài sản chung: Chị Võ Thị Chúc L để tự vợ chồng thoả thuận và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: Chị Võ Thị Chúc L thừa nhận không có nên không yêu cầu giải quyết.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Võ Thị Chúc L phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Vậy chị L đã nộp đủ tiền án phí.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận, như đã nhận định nêu trên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án và khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Võ Thị Chúc L và anh Lữ Thanh S ly hôn.

2. Về con chung: Chị Võ Thị Chúc L và anh Lữ Thanh S có 02 người con tên Lữ Văn Đ, sinh ngày 26/9/2000 và Lữ Thị Ngọc T, sinh ngày 02/10/2003, hiện nay các con đã trường thành và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

3. Về tài sản chung: Chị Võ Thị Chúc L để tự vợ chồng thoả thuận và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

4. Về nợ chung: Chị Võ Thị Chúc L thừa nhận không có nên không yêu cầu giải quyết.

5. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Võ Thị Chúc L phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), theo lai thu số: 0003435 ngày 29/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Vậy chị L đã nộp đủ tiền án phí.

6. Báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm báo cho chị L biết có quyền kháng cáo Bản án trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (07/02//2025). Đối với anh S vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

7. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ