vanban.org

Bản án 10/2025/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc con chung sau khi ly hôn của chị Ngô Thị D.

Giao cho chị Ngô Thị D được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Nguyễn Văn H, sinh ngày 6/12/2012. Cấp dưỡng nuôi con chung không xem xét giải quyết do chị D không yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền đi lại thăm nom con mà không ai được cản trở việc thực hiện quyền nà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn."
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc con chung sau khi ly hôn của chị Ngô Thị D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ THUẬN THÀNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẮC NINH
Bản án số 10/2025/HNGĐ-ST
Ngày 17/01/2025
V/v: Tranh chấp về hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH - TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Cây.

Các Hội Thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Quế, bà Nguyễn Thị Kim Dung.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Thập – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lâm - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 48/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con chung khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 17/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Ngô Thị D, sinh năm 1992. (có mặt)

Cư trú: Thôn N, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1984. (có mặt)

Cư trú: Thôn T, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, lời khai của nguyên đơn, bị đơn có trong hồ sơ vụ án và lời khai của nguyên đơn tại phiên tòa thì nội dung vụ án tóm tắt như sau.

Chị Ngô Thị D kết hôn với anh Nguyễn Văn C vào năm 2011, trong thời gian chung sống vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Văn H, sinh ngày 6/12/2012. Do cuộc sống chung không hạnh phúc nên vợ chồng đã ly hôn, tại Quyết định Công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự số 157/2018/QĐST-HNGĐ ngày 12/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành (nay là thị xã T), tỉnh Bắc Ninh đã giải quyết cho chị D và anh C ly hôn. Về con chung công nhận thỏa thuận giữa hai bên, giao cho anh C được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc con chung, cấp dưỡng nuôi con chung hai bên tự thỏa thuận.

Theo phía chị D trình bày: Theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn thì chị có quyền được thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Tuy nhiên trong suốt cả thời gian cháu H ở với anh C, phía anh C đã luôn cản trở, không cho chị được thực hiện quyền thăm non con. Chị muốn thăm con anh C cũng không cho gặp. Ngày lễ, ngày tết hoặc gia đình nhà chị có việc gì chị đề nghị và muốn cho đón cháu về anh C cũng không cho, anh C đã xâm phạm quyền được thăm nom con chung của chị. Mặt khác trong việc chăm sóc con phía anh C cũng không thực hiện tốt công việc chăm sóc con của một người cha. Mặc dù cháu H còn nhỏ nhưng anh C đã bắt cháu làm làm nhiều công việc gia đình, bắt cháu cùng làm may với anh nên đã làm cho việc học tập của cháu sa sút dẫn đến phải lưu ban mất một năm. Anh C cũng lấy vợ mới và đã có con riêng với vợ mới nên càng không có điều kiện để chăm sóc cháu H.

Nay chị D thấy việc anh C tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu H sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển của cháu H sau này, ảnh hưởng đến quyền lợi, tương lai của cháu nên chị đề nghị Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung. Chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cháu H, nếu được nuôi con chị cũng không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con cùng cùng chị.

Phía anh Nguyễn Văn C trình bày:

Anh C xác nhận việc anh với chị Ngô Thị D trước đây có quan hệ hôn nhân cùng nhau và vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Văn H, sinh ngày 6/12/2012. Tại thời điểm ly hôn vào năm 2018, vợ chồng đã thỏa thuận anh được trực tiếp nuôi cháu H. Trong thời gian anh chăm nuôi con phía chị D hàng năm cũng có đến thăm con một hai lần và anh vẫn tạo điều kiện để chị D thăm con. Đối với việc chị D cho rằng anh bắt cháu H làm việc mà không có thời gian học dẫn đến cháu H bị lưu ban một lớp anh không thừa nhận. Theo anh C thì do cháu H bản thân rất nghịch ngợm, mải chơi trong khi chị D lại chiều con mua cho con điện thoại càng làm cho cháu không tập chung vào việc học tập. Anh cũng lo lắng nếu với tình trạng cháu H mải chơi như này mà về chung sống với mẹ thì chị D càng không quản lý được và sẽ làm hỏng cháu. Bản thân anh cũng vẫn muốn được chăm sóc con để quản lý, nuôi dậy và định hướng tương lai cho cháu. Do đó anh không nhất trí với yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung của phía chị D.

Tại phiên tòa phía chị D vẫn giữ yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung, chị đề nghị được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu H và cũng không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con. Phía anh C không nhất trí với yêu cầu của chị D.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật: Trong thời gian chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, những người tiến hành tố tụng khác cũng như phía nguyên đơn đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về giải quyết vụ án: Thấy rằng việc anh C được trực tiếp nuôi con chung nhưng đã không đảm bảo được quyền lợi về mọi mặt của con chung. Anh C thiếu quan tâm chăm sóc con dẫn đến cháu Hiếu học H1 sao nhãng phải lưu ban. Xem xét các vấn đề mà phía chị D đưa ra cũng như điều kiện của hai bên bố mẹ thấy rằng việc chị D yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung là có căn cứ cần chấp nhận. Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình tuyên xử giao cho chị D được trực tiếp nuôi con chung là cháu Nguyễn Văn H. Cấp dưỡng nuôi con chung do chị D không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền đi lại thăm nom con chung. Về án phí: Chị D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Từ nội dung trên:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về tố tụng: Yêu cầu khởi kiện đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn của chị Ngô Thị D được quy định tại khoản 3 Điều 28 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Văn C có nơi thường trú, cư trú tại thị xã T. Do vậy việc Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành thụ lý giải quyết yêu cầu khởi kiện của chị D là đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

. Về nội dung: Căn cứ lời khai của phía chị Ngô Thị D, lời khai của anh Nguyễn Văn C cũng như căn cứ vào Quyết định Công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự số 157/2018/QĐST-HNGĐ ngày 12/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành (nay là thị xã T), tỉnh Bắc Ninh thì xác định được chị D và anh C có 01 con chung là cháu Nguyễn Văn H, sinh ngày 6/12/2012. Kể từ sau thời điểm vợ chồng ly hôn vào năm 2018 đến nay thì vợ chồng đã thống nhất để anh C được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung.

Xét yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung của phía chị D thì thấy: Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình thì việc giao con cho một bên nuôi dưỡng phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con chung. Tức việc ai nuôi con phải đảm bảo quyền lợi của con, đảm bảo cho con có được điều kiện tốt nhất để học tập, trưởng thành. Đối với phía anh C trong thời gian trực tiếp nuôi con chung đã không đảm bảo cho con có được điều kiện học tập tốt dẫn đến việc cháu H đã phải lưu ban một lớp học. Anh C cho rằng chị D chiều con, mua điện thoại cho con sử dụng để cháu sao nhãng việc học tập, tuy nhiên ý kiến này của anh C không có căn cứ vì cháu H trực tiếp ở với bố. Việc cháu có sử dụng nhiều điện thoại như anh đã trình bày thì anh phải có trách nhiệm bảo ban cháu, hoặc không cho cháu sử dụng điện thoại chứ không phải việc đổ lỗi cho mẹ cháu mua điện thoại cho cháu sử dụng.

Qua xác minh tại địa phương thì thấy anh C làm công việc may, lượng công việc cũng nhiều và không có thời vụ. Phía cháu H cũng có nguyện vọng được về ở cùng với mẹ. Thấy rằng do điều kiện hiện nay của anh C không đủ điều kiện để chăm sóc con được tốt, không đảm bảo cho sự phát triển toàn diện của con chung. Do đó cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của phía chị D, xử giao cho chị D được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Văn H.

Về cấp dưỡng nuôi con phía chị D không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

. Về án phí: Chị D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 3 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 147; Điều 271; Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc con chung sau khi ly hôn của chị Ngô Thị D.

2. Giao cho chị Ngô Thị D được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Nguyễn Văn H, sinh ngày 6/12/2012. Cấp dưỡng nuôi con chung không xem xét giải quyết do chị D không yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền đi lại thăm nom con mà không ai được cản trở việc thực hiện quyền này.

3. Về án phí: Chị Ngô Thị D phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà chị D đã nộp theo biên lai thu số 0001521 ngày 11/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

5. Về quyền kháng cáo: Chị D, anh C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ