vanban.org

Bản án 10/2025/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trịnh Thị N về việc buộc ông Nguyễn Thanh S liên đới cùng bà Nguyễn Thị M phải trả nguyên đơn bà Trịnh Thị N số tiền phường còn nợ.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trịnh Thị N về việc buộc bà Nguyễn Thị M phải trả nguyên đơn bà Trịnh Thị N số tiền 76.000.000 đồng (Bảy mươi sáu triệu đồng) tiền lãi. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trịnh Thị N về việc buộc bà Nguyễn Thị M phải trả nguyên đơn bà … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp về phường, hụi"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trịnh Thị N về việc buộc ông Nguyễn Thanh S liên đới cùng bà Nguyễn Thị M phải trả nguyên đơn bà Trịnh Thị N số tiền phường còn nợ.
  • Căn cứ chính? Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - BẮC NINH
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2025/DS-ST
Ngày 31 tháng 7 năm 2025
Về việc “Tranh chấp giao dịch
dân sự về tiền phường, họ”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Môn;

2. Bà Phạm Thị Thư;

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Hoàn - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1- Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1- Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh đã tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 258/2025/TLST- DS ngày 11/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang (nay là số 157/2025/TLST-DS ngày 01/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1- Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh) về việc “Tranh chấp giao dịch dân sự về tiền phường, họ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị N, sinh năm 1956; Địa chỉ: Tổ dân phố S, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (nay là Tổ dân phố S, phường T, tỉnh Bắc Ninh).( Bà N có mặt)

2. Đồng bị đơn:

- Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1969;

- Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1968;

Cùng địa chỉ: Tổ dân phố C, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (nay là Tổ dân phố C, phường T, tỉnh Bắc Ninh).

(Ông S và bà M đều vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, bản tự khai và biên bản lấy lời khai, nguyên đơn là bà Trịnh Thị N trình bày:

Bà có quan hệ quen biết là người cùng xã với ông S, bà M. Khoảng tháng 2/2022 thấy nhiều người cùng xã có nói chuyện về việc tham gia phường ở nhà ông S, bà M nên ngày 20/2/2022 thì bà có đến nhà ông S, bà M hỏi về việc tham gia chơi phường. Bà và ông S, bà M có thỏa thuận là bà được tham gia phường A, phường B.

Về cách thức tham gia, số tiền đóng phường đều giống nhau, mỗi phường gồm 24 suất tham gia, mỗi người tham gia phường thì sẽ đóng 5.000.000 đồng/ tháng/ suất, quay vòng lấy phường lần lượt hết 24 suất. Ngoài ra còn thỏa thuận về việc phần trăm của tiền đóng phường cụ thể là: mỗi người tham gia phường khi lấy sau thì sẽ được nhận tiền phường đã đóng và 10% số tiền đóng phường là tiền phần trăm nhân với số lượt lấy, trừ đi 1.000.000 đồng/suất cho chủ phường. Hai bên chỉ thỏa thuận bằng miệng không lập thành văn bản. Bà chỉ biết đóng tiền phường cho chủ phường là ông S, bà M, còn bà không biết người cùng tham gia còn lại trong phường là ai. Tòa án yêu cầu bà cung cấp tên, tuổi, địa chỉ những người tham gia các dây phường với thì bà không biết hiện nay những người đó ở đâu, làm gì để cung cấp cho Tòa án.

Mỗi lần bà đóng phường cho ông S, bà M thì ông S hoặc bà M đều ký vào sổ của bà, còn ông S, bà M có sổ theo dõi riêng không thì bà không biết.

Các phường chỉ khác nhau về thời gian mở phường và thời gian kết thúc phường, cụ thể:

Phường 1 (từ ngày 20/2/2022 đến ngày 20/11/2023 âm lịch): Bà tham gia 2 suất phường nên bà đóng 10.000.000 đồng/2 suất phường/tháng, bà đã đóng 22 tháng (vì năm 2023 có hai tháng 2 âm lịch), tổng cộng là 220.000.000 đồng. Ngày 20/11/2023 đến lượt bà lấy phường. Lẽ ra bà được nhận 220.000.000 đồng tiền gốc và được nhận thêm 44.000.000 đồng tiền phần trăm, tổng cộng là 264.000.000 đồng. Tuy nhiên bà chưa được nhận số tiền này vì ông S, bà M báo vỡ nợ nên bà không tính trừ tiền phần trăm cho chủ phường.

Phường 2 (từ ngày 20/8/2022 đến ngày 20/10/2023 âm lịch): Bà tham gia 2 suất phường nên bà đóng 10.000.000 đồng/2 suất phường/ tháng, bà đã đóng 16 tháng (vì năm 2023 có hai tháng 2 âm lịch), tổng cộng là 160.000.000 đồng. Lẽ ra bà được nhận 160.000.000 đồng tiền gốc và được nhận thêm 32.000.000 đồng tiền phần trăm, tổng cộng là 192.000.000 đồng khi đến lượt lấy phường. Tuy nhiên chưa đến lượt lấy của bà thì ông S, bà M báo vỡ nợ nên bà chưa được lấy tiền và bà không tính trừ tiền phần trăm cho chủ phường.

Ông S, bà M nợ bà số tiền 380.000.000 đồng tiền gốc và 76.000.000 đồng tiền phần trăm. Ngày 27/1/2024, ông S, bà M trả cho bà 220.000.000 đồng tiền gốc. Ngày 11/3/2024 ông S, bà M trả cho bà 50.000.000 đồng tiền gốc. Ông S, bà M có chốt là còn nợ bà 110.000.000 đồng. Nội dung này được thể hiện tại Giấy trả nợ tiền phường ông S, bà M ký nhận. Chữ “còn tiền phần trăm là 76.000.000 triệu đồng, tổng là 186.000.000 viết bằng chữ một trăm tám sáu triệu đồng” tại Giấy trả nợ tiền phường là chữ bà tự viết thêm vào, ông S, bà M không biết.

Số tiền bà tham gia phường là của riêng bà tích góp, không liên quan đến ai. Chồng bà là ông Lưu Văn T đã chết năm 2003 nên không liên quan gì đến việc bà chơi phường, bà đề nghị không đưa vào tham gia tố tụng trong vụ án.

Nay bà khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông S, bà M phải trả bà 110.000.000 đồng (Một trăm mười triệu đồng) tiền gốc và 76.000.000 đồng (Bảy mươi sáu triệu đồng) tiền lãi.

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai bị đơn là bà Nguyễn Thị M trình bày:

Bà Trịnh Thị N là người cùng xã với bà, bà là chủ phường các suất phường mà bà N đã tham gia chơi. Bà không hô hào mà bà N tự nguyện đến nhà gặp trực tiếp bà là chủ phường với nguyện vọng tham gia chơi.

Tổng số tiền phường mà bà N đã đóng cho bà là 456.000.000 đồng vào các năm 2022, 2023, 2024. Tổng số đợt bà đã thanh toán tiền phường cho bà N là 02 lần gồm:

+ Lần 01 thanh toán vào ngày 27/01/2024 là: 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu đồng).

+ Lần 02 thanh toán vào ngày 11/3/2024 là: 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).

Bà N khởi kiện số tiền phường bà còn nợ lại bà N là: 186.000.000 đồng (Một trăm tám mươi sáu triệu đồng), trong đó 110.000.000 đồng (Một trăm mười triệu đồng) tiền gốc và 76.000.000 đồng (Bảy mươi sáu triệu đồng) tiền phần trăm thì bà không đồng ý với số tiền 76.000.000 đồng (Bảy mươi sáu triệu đồng) là tiền phần trăm mà bà N yêu cầu phải trả. Bởi đối chiếu với Giấy trả nợ tiền phường số 03 được lập thành 02 (hai) bản gốc giống nhau có giá trị pháp lý như nhau, trong đó bà đang lưu giữ 01 (một) bản gốc đồng thời bà giao cho bà Trịnh Thị N giữ 01 (một) bản gốc thể hiện chủ phường là Nguyễn Thị M, người chơi phường là bà Trịnh Thị N đều có ký tá, xác nhận.

Trong cả hai giấy trả nợ tiền phường mà cả bà và bà N đang lưu giữ đều thể hiện tổng số tiền phường mà chủ phường Nguyễn Thị M còn nợ người chơi phường Trịnh Thị N chốt đến ngày 27/01/2024 là: 380.000.000 đồng (Ba trăm tám mươi triệu đồng) chứ không phải số tiền 456.000.000 đồng (Bốn trăm năm mươi sáu triệu đồng) như trong đơn khởi kiện của bà.

Chủ phường Nguyễn Thị M đã thanh toán tiền phường cho bà N là 02 đợt với số tiền là: 270.000.000 đồng (Hai trăm bảy mươi triệu đồng) gồm: Lần 01 thanh toán vào ngày 27/01/2024 là: 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu đồng). Lần 02 thanh toán vào ngày 11/3/2024 là: 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng). Mỗi đợt thanh toán chủ phường Nguyễn Thị M và người chơi phường T đều ký, ghi rõ họ tên xác nhận đầy đủ.

Số tiền chủ phường Nguyễn Thị M còn nợ lại người chơi phường Trịnh Thị N chốt đến ngày 11/3/2024 là: 110.000.000 đồng (Một trăm mười triệu đồng).

Như vậy, trong giấy trả nợ tiền phường không thể hiện rõ sự thoả thuận, ký tá về số tiền: 76.000.000 đồng (Bảy mươi sáu triệu đồng) là tiền phần trăm giữa chủ phường và người chơi phường.

Do đó, bà thừa nhận đến thời điểm hiện tại, bà chủ phường- Nguyễn Thị M đang nợ bà Trịnh Thị N số tiền phường là: 110.000.000 đồng (Một trăm mười triệu đồng) và bà xác nhận không nợ bà N số tiền 76.000.000 đồng (Bảy mươi sáu triệu đồng) là tiền phần trăm nào cả. Bà không hề cố tình lảng tránh hay không có ý thức trả nợ bà N số tiền phường còn nợ lại nêu trên trong thời gian sớm nhất.

Bà không đồng ý việc bà N yêu cầu Toà án buộc chồng bà có nghĩa vụ trả bà N số tiền phường còn nợ vì đây là việc làm ăn riêng của bà, do một mình bà thực hiện, chồng bà - ông Nguyễn Thanh S không liên quan, không có trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một mình bà thực hiện. Chồng bà không hề hay biết việc bà N và bà thỏa thuận về việc chơi phường như thế nào, việc này do bà và bà N tự thoả thuận, tự xác lập giao kết với nhau. Mọi giao dịch ký kết liên quan đến việc chơi và lấy tiền phường từ khi bà là chủ phường, chỉ một mình bà ký xác nhận. Trong quá trình bà N đóng phường, nhiều khi bà không có nhà hoặc bận việc riêng, bà đã nhờ chồng bà cầm hộ, nhận hộ tiền phường, sau đó chồng bà đã trao trả đầy đủ toàn bộ số tiền phường đã nhận của bà N cho bà.

Tòa án yêu cầu bà cung cấp tên, tuổi, địa chỉ những người tham gia các dây phường do bà làm chủ phường đang có tranh chấp thì bà không cung cấp được vì hiện nay những người đó ở đâu, làm gì bà không biết để cung cấp cho Tòa án.

Hiện tại sức khoẻ của bà không được tốt, bà đang phải điều trị bệnh tại Bệnh viện Ung bướu tỉnh B, quá trình điều trị của bà lâu dài, theo từng đợt theo phác đồ điều trị của bác sĩ. Do đó bà xin phép được vắng mặt tại phiên tòa giải quyết vụ án.

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai bị đơn là ông Nguyễn Thanh S trình bày:

Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đây là việc làm ăn riêng của vợ ông, do một mình vợ ông thực hiện. Bà Trịnh Thị N là cùng xã với vợ chồng ông. Việc bà N là người chơi phường do vợ ông là chủ phường chơi như thế nào ông không biết. Ông chỉ nhận hộ, cầm hộ tiền phường của bà N đóng cho chủ phường là vợ ông khi vợ ông không có nhà, bận việc riêng và ông đã bàn giao đủ cho vợ ông toàn bộ số tiền đó chứ ông không chiếm hữu, không sử dụng vào mục đích cá nhân hay vì nhu cầu thiết yếu của gia đình. Số tiền thu được hay khoản lợi có được từ việc cầm phường do vợ ông là chủ phường không nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình ông. Chính vì vậy, ông không có trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một mình vợ ông thực hiện, ông không có nghĩa vụ và không có trách nhiệm đối với khoản nợ riêng của vợ ông với bà N. Ông xin phép vắng mặt tại tất cả các phiên làm việc của Tòa án gồm lấy lời khai, công khai chứng cứ, hòa giải, đối chất, phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm liên quan đến vụ án.

Trong quá trình giải quyết vụ án:

Ngày 10/7/2025 nguyên đơn bà Trịnh Thị N có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông Nguyễn Thanh S liên đới cùng bà Nguyễn Thị M phải trả bà số tiền phường còn nợ, rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc bà M phải trả bà 76.000.000 đồng tiền lãi. Tại phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và phiên hòa giải ngày 10/7/2025, bà Trịnh Thị N giữ nguyên ý kiến về nội dung trên.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Nguyên đơn bà Trịnh Thị N trình bày: Bà giữ nguyên ý kiến đã trình bày tại phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và biên bản hòa giải ngày 10/7/2025, rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông Nguyễn Thanh S liên đới cùng bà Nguyễn Thị M phải trả bà số tiền phường còn nợ, rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc bà M phải trả bà 76.000.000 đồng tiền lãi. Nay bà chỉ yêu cầu cá nhân bà Nguyễn Thị M phải trả bà số tiền 110.000.000 đồng tiền phường gốc còn nợ. Căn cứ khởi kiện của bà là bản gốc Giấy trả nợ tiền phường số 03(quyển 02) đã nộp cho Tòa án. Ngoài tài liệu trên thì bà không còn tài liệu nào khác liên quan đến khoản nợ tiền phường, họ. Bà cũng xác định ngoài số tiền nợ phường nói trên, ông Nguyễn Thanh S, bà Nguyễn Thị M không còn nợ bà khoản tiền nào khác. Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà.

Bị đơn ông Nguyễn Thanh S, bà Nguyễn Thị M vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh phát biểu quan điểm:

+ Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, giải quyết và xét xử vụ án. Các đương sự chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự.

+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 26, 35, 39, 147, 217, 271, 273, 227, 228, 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 471 Bộ luật Dân sự, Điều 15, 18, 23 Nghị định số 19/2019/NĐ - CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp tiền án phí, lệ phí Tòa án, xử:

- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Nguyễn Thanh S phải liên đới cùng bà Nguyễn Thị M trả tiền phường còn nợ;

- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trịnh Thị N về việc buộc bà Nguyễn Thị M phải trả nguyên đơn số tiền 76.000.000 đồng (Bảy mươi sáu triệu đồng) tiền lãi.

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bà Nguyễn Thị M phải trả cho bà Trịnh Thị N số tiền phường còn nợ là 110.000.000 đồng (Một trăm mười triệu đồng).

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị M phải chịu 5.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Bà Trịnh Thị N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các

đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

Về sự vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Đồng bị đơn là bà Nguyễn Thị M và ông Nguyễn Thanh S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vắng mặt những người này là đảm bảo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật và tư cách tố tụng của các đương sự: Tại đơn khởi kiện ban đầu, bà Trịnh Thị N khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Thanh S và bà Nguyễn Thị M phải trả tiền phường còn nợ. Quan hệ giữa các bên là quan hệ giữa cá nhân với cá nhân trong giao dịch dân sự về tiền phường, các bên không tự giải quyết được nên nguyên đơn đã làm đơn khởi kiện theo thủ tục tố tụng dân sự tại Tòa án. Do vậy, quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Tranh chấp giao dịch dân sự về tiền phường, họ” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 471 của Bộ luật Dân sự. Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định bà Trịnh Thị N là nguyên đơn, ông Nguyễn Thanh S và bà Nguyễn Thị M là đồng bị đơn.

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn cư trú ở phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (nay là phường T, tỉnh Bắc Ninh). Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1- Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh) thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền được quy định tại các Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 3, Điều 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực; quy định phạm vi, thẩm quyền theo lãnh thổ của Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy:

Tại đơn khởi kiện ban đầu, nguyên đơn là bà Trịnh Thị N yêu cầu ông Nguyễn Thanh S và bà Nguyễn Thị M phải liên đới trả bà số tiền phường còn nợ đó là 110.000.000 đồng tiền gốc và 76.000.000 là tiền lãi. Quá trình giải quyết vụ án, bà N có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông Nguyễn Thanh S liên đới cùng bà Nguyễn Thị M phải trả bà số tiền phường còn nợ, rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc bà M phải trả bà 76.000.000 đồng tiền lãi. Xét thấy việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện, không bị ai ép buộc. Căn cứ khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Nguyễn Thanh S phải liên đới cùng bà Nguyễn Thị M trả tiền phường còn nợ, buộc bà Nguyễn Thị M phải trả 76.000.000 đồng tiền lãi.

Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Trịnh Thị N về việc buộc bà Nguyễn Thị M phải trả 110.000.000 đồng tiền phường còn nợ, Hội đồng xét xử thấy:

Căn cứ khởi kiện của nguyên đơn là bản gốc Giấy trả nợ tiền phường số 03 (quyển 02) đã xuất trình cho Tòa án. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị M xuất trình bản gốc Giấy trả nợ tiền phường số 03. Mặc dù các Giấy trả nợ tiền phường do các bên xuất trình không cùng mã số ký hiệu, nhưng đều thể hiện các nội dung chủ phường Nguyễn Thị M; người chơi phường Trịnh Thị N; có chữ ký của bà M và bà N; tính đến ngày 11/3/2024 là lần chốt nợ cuối cùng thì bà Nguyễn Thị M - chủ phường còn nợ bà N số tiền 110.000.000 đồng. Các Giấy trả nợ tiền phường nêu trên đều được nguyên đơn và bị đơn thừa nhận nên đủ điều kiện là chứng cứ để xem xét giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 95, Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và bị đơn đều có lời khai thừa nhận việc bà N và bà M thỏa thuận chơi phường là có thật, các bên tham gia chơi phường là tự nguyện. Bà N đã tham gia 2 phường do bà M làm chủ phường gồm phường A, phường B. Mỗi phường gồm 24 suất, mỗi người chơi phường phải đóng 5.000.000 đồng/tháng/suất. Bà N đóng 2 phường tổng cộng là 380.000.000 đồng tiền gốc. Bà N đã được bà M thanh toán một phần tiền phường gốc là 270.000.000 đồng, chưa được thanh toán lãi. Trong các “Giấy trả nợ tiền phường” đều ghi số tiền phường bà M còn nợ bà N là 110.000.000 đồng, bà N - nguyên đơn và bà M - bị đơn đều xác nhận số tiền phường (gốc) bà M còn nợ bà N là 110.000.000 đồng. Đây là tình tiết không phải chứng minh trong vụ án theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc bà M (chủ phường) không trả bà N (người chơi phường) số tiền 110.000.000 đồng tiền phường (gốc) còn nợ là vi phạm nghĩa vụ của chủ phường theo quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 15, Điều 18, Điều 23 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trịnh Thị N, buộc bà Nguyễn Thị M phải trả số tiền phường còn nợ là 110.000.000 đồng (Một trăm mười triệu đồng) như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Về lãi suất: Do nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 144, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 5% x 110.000.000 đồng = 5.500.000 đồng (Năm triệu năm trăm nghìn đồng).

Bà Trịnh Thị N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 2, khoản 3, Điều 68; khoản 1, khoản 2 và khoản 4 Điều 91; khoản 2 Điều 92; khoản 3 Điều 144; Điều 147; Điều 217; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 1, khoản 2 Điều 244; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 116; Điều 117; Điều 274; Điều 280; khoản 1 Điều 351; Điều 357; Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 15; Điều 18; Điều 23 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trịnh Thị N về việc buộc ông Nguyễn Thanh S liên đới cùng bà Nguyễn Thị M phải trả nguyên đơn bà Trịnh Thị N số tiền phường còn nợ.

2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trịnh Thị N về việc buộc bà Nguyễn Thị M phải trả nguyên đơn bà Trịnh Thị N số tiền 76.000.000 đồng (Bảy mươi sáu triệu đồng) tiền lãi.

3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trịnh Thị N về việc buộc bà Nguyễn Thị M phải trả nguyên đơn bà Trịnh Thị N số tiền phường còn nợ là 110.000.000 đồng (Một trăm mười triệu đồng).

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Nguyễn Thị M phải chịu 5.500.000 đồng (Năm triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

- Bà Trịnh Thị N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

6. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

7. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ