- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Lò Thị Bích T - Lò Văn N1"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Lò Văn V và chị Lò Thị Bích T:
- Căn cứ chính? Điều 586 Bộ luật Dân sự; Điều 590 Bộ luật Dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2025/DS-ST Ngày: 03 – 9 - 2025 V/v tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Phương Thuý
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Cầm Văn Tổ
2. Ông Nguyễn Đức Việt
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thảo Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 tham gia phiên toà: Bà Tường Thị Thuỷ - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 08 tháng 8 năm 2025 và ngày 03 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 42/2025/TLST-DS ngày 20 tháng 02 năm 2025 về tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 7 năm 2025 và quyết định tạm ngừng phiên tòa số 01/2025/QĐST-DS ngày 08 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lò Thị Bích T, sinh năm 1998 và anh Lò Văn V, sinh năm 1992. Địa chỉ: Bản A, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La (nay là bản A, xã B1, tỉnh Sơn La). Chị T vắng mặt có ủy quyền cho anh V, anh V có mặt.
2. Bị đơn: Anh Lò Văn N1, sinh năm 1993 và chị Lường Thị N, sinh năm 1996. Địa chỉ: Bản A, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La (nay là bản A, xã B1, tỉnh Sơn La). Có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Cháu Lò Bảo L, sinh ngày 12/3/2013. Địa chỉ: Bản A, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La (nay là bản A, xã B1, tỉnh Sơn La). Có mặt.
Đại diện theo pháp luật của cháu Lò Bảo Luân: Anh Lò Văn N1, sinh năm 1993 và chị Lường Thị N, sinh năm 1996. Địa chỉ: Bản A, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La (nay là bản A, xã B1, tỉnh Sơn La). Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu Lò Bảo Luân: Ông Lường Duy T – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 20/02/2025, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn chị Lò Thị Bích T và anh Lò Văn V trình bày như sau:
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 07/01/2025, chị Lò Thị Bích T khi đang di chuyển bằng xe gắn máy chở theo con gái đi trên đường gần khu vực cổng chào bản A, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La (nay là bản A, xã B1, tỉnh Sơn La) thì xảy ra va chạm với cháu Lò Bảo L, sinh ngày 12/3/2013 là người cùng cư trú tại bản A. Khi đó chị T đang đi đúng phần đường bên phải theo hướng di chuyển từ bản A ra xã B, cháu L sử dụng xe điện đi ngược chiều khi vào cua không bám sát mép đường bên phải theo hướng đi của cháu mà đã chiếm sang phần đường của chị T. Sau va chạm, con gái của chị T không có thương tích gì còn chị T đã được đưa vào bệnh viện đa khoa Mai Sơn, tỉnh Sơn La để thăm khám và điều trị; bệnh viện đa khoa Mai Sơn kết luận chị T bị gãy đầu trên của xương chày (bong điểm bám gân bánh chè gối trái), rách khớp sụn đầu gối trái phải tiến hành phẫu thuật kết hợp xương. Chị T điều trị tại bệnh viện đa khoa Mai Sơn từ ngày 07/01/2025 đến ngày 16/01/2025; sau đó phải đi tái khám tại bệnh viện Việt Đức, Hà Nội vào ngày 20/01/2025 và tại bệnh viện đa khoa Mai Sơn vào các ngày 06/02/2025; 24/02/2025; 13/6/2025; đến ngày 24/7/2025 chị T tiến hành phẫu thuật tháo phương tiện kết hợp xương tại bệnh viện đa khoa Mai Sơn và điều trị tại bệnh viện từ ngày 24 đến ngày 31/7/2025.
Thời điểm xảy ra sự việc hai bên gia đình thống nhất sẽ giải quyết dân sự với nhau tại địa phương. Hai bên cũng đã báo cáo sự việc cho tổ an ninh bản A và đề nghị ban quản lý bản A tổ chức hòa giải cho hai bên nhưng không thỏa thuận được về mức bồi thường. Anh V và chị T xác nhận từ thời điểm xảy ra sự việc anh N1 và chị N có đến thăm hỏi 01 lần và đã đưa cho gia đình chị T số tiền 1.000.000VNĐ. Từ đó đến nay gia đình anh N1, chị N không hỗ trợ, bồi thường thêm khoản tiền nào khác. Do cháu L chưa đủ 16 tuổi và hai gia đình không thống nhất được việc bồi thường nên chị T và anh V đã có đơn khởi kiện vụ án yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm đối với bố mẹ đẻ cháu L là anh Lò Văn N1 và chị Lường Thị N. Chị Lò Thị Bích T và anh Lò Văn V đề nghị Tòa án buộc anh Lò Văn N1 và chị Lường Thị N (bố mẹ đẻ của cháu L) phải bồi thường tổng số tiền là 108.817.000VNĐ, bao gồm:
- Tiền viện phí, tiền thuốc và chi phí đi lại khám chữa bệnh là 26.817.000VNĐ.
- Tiền bồi thường tổn hại về sức khỏe và tinh thần cho chị Lò Thị Bích T là 10.000.000VNĐ.
- Tiền mất thu nhập của chị Lò Thị Bích T là 36.000.000VNĐ.
- Tiền mất thu nhập của anh Lò Văn V là 36.000.000VNĐ.
Trong các biên bản tự khai và các biên bản làm việc trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bị đơn anh Lò Văn N1 và chị Lường Thị N trình bày như sau:
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 07/01/2025, con trai anh chị là cháu Lò Bảo L có điều khiển xe đạp điện đưa em trai đi học, khi về nhà (hướng từ xã B vào bản A) có xảy ra va chạm ngoài ý muốn với chị Lò Thị Bích T. Sau khi sự việc xảy ra anh chị mới biết thông tin và đến hiện trường thì chị T đã được gia đình đưa đi bệnh viện đa khoa Mai Sơn để khám chữa. Gia đình anh chị cũng đưa cháu L vào bệnh viện kiểm tra thì được thông báo cháu L bị gãy xương sườn kín và được bác sĩ cho cháu về nhà điều trị. Đối với chị T anh N1, chị N được biết là bị nứt xương bánh chè và sẽ phải mổ. Ngày hôm sau anh V có gọi điện báo anh N1, chị N xuống bệnh viện để cùng gia đình xem xét chi phí mổ cho chị T nhưng do bận tìm thuốc bó cho cháu L nên gia đình anh chị không đến được. Sau đó, vợ chồng anh N1, chị N đã đến thăm hỏi và gửi số tiền 1.000.000VNĐ cho chị T. Tại buổi hòa giải do ban quản lý bản A tổ chức, phía anh V và chị T yêu cầu gia đình anh chị thanh toán 70% chi phí điều trị, đi lại, ăn ở của chị T và gia đình khi chữa trị cho chị T nhưng gia đình anh N1, chị N không nhất trí do chưa biết nguyên nhân chính xác của vụ việc. Anh chị được cháu L thuật lại nội dung sự việc khi đó là do cháu L tránh một con chó của nhà dân bên đường chạy ra, còn chị T điều khiển xe mô tô không đảm bảo an toàn (chạy tốc độ nhanh, không có còi báo hiệu) nên hai bên mới xảy ra va chạm. Gia đình anh chị trước đây chấp nhận chi trả 50% chi phí điều trị cho chị T nhưng đến nay anh chị không nhất trí bồi thường cho chị T, anh V vì cho rằng sự việc xảy ra không có lỗi của cháu L.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu Lò Bảo L trình bày như sau:
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 07/01/2025, cháu lấy xe đạp điện của gia đình để chở em đi học. Khi cháu quay về bản thì thấy trên đường có 01 con chó nên cháu đã phanh tránh nhưng khi đó chị T đi ngược chiều với tốc độ nhanh nên đã không kịp xử lý dẫn tới hai bên xảy ra va chạm. Xe của cháu L khi đó không bị đổ, chị T và con gái bị ngã. Cháu L có thấy đau bụng và sau đó được bố là anh N1 đưa đi khám ở bệnh viện, bác sĩ chuẩn đoán cháu bị gãy xương sườn kín. Cháu đã phải nghỉ học ở nhà 01 tháng để đắp thuốc do bố mẹ cháu mua.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn đồng thời là đại diện hợp pháp cho chị T - anh Lò Văn V giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với anh Lò Văn N1 và chị Lường Thị N; buộc anh Lò Văn N1 và chị Lường Thị N (bố mẹ đẻ của cháu L) phải bồi thường:
+ Tiền viện phí, tiền thuốc và chi phí đi lại khám chữa bệnh là 26.817.000VNĐ.
+ Tiền bồi thường tổn hại về sức khỏe và tinh thần cho chị Lò Thị Bích T là 10.000.000VNĐ.
+ Tiền mất thu nhập của chị Lò Thị Bích T là 36.000.000VNĐ.
+ Tiền mất thu nhập của anh Lò Văn V là 36.000.000VNĐ.
Anh V nộp bổ sung các tài liệu chứng minh thu nhập bình quân của anh chị tại địa phương, chi phí phẫu thuật tháo phương tiện kết hợp xương tại bệnh viện đa khoa Mai Sơn và điều trị cho chị T tại bệnh viện từ ngày 24 đến ngày 31/7/2025.
- Đồng bị đơn anh Lò Văn N1 và chị Lường Thị N không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của chị Lò Thị Bích T và anh Lò Văn V.
Anh Lò Văn N1 và chị Lường Thị N nộp bổ sung tài liệu chứng minh việc chi phí mua thuốc điều trị cho cháu L và tiền mất thu nhập của anh N1 trong quá trình chăm sóc cháu Lò Bảo L. Anh N1, chị N yêu cầu chị T phải bồi thường chi phí khám, chữa bệnh cho cháu L.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – cháu Lò Bảo L: Không có ý kiến, yêu cầu nào khác.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích cho cháu Lò Bảo L – ông Lường Duy T: cho rằng sự việc xảy ra không có lỗi của cháu L. Chị T điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe, xe không đảm bảo an toàn; không có biên bản hiện trường, camera hay người chứng kiến sự việc là chưa đảm bảo theo quy định của pháp luật nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị T và anh V cho rằng có lỗi của cháu L là không đúng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Sơn La phát biểu ý kiến: về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và quan điểm giải quyết vụ án như sau:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật.
- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên toà ngày hôm nay nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét tất cả các ý kiến của những người tham gia phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng vào các Điều 584, 585, 586, 588, 590 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 147, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26, điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử theo hướng:
+ Về nội dung: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Lò Văn V và chị Lò Thị Bích T. Buộc anh Lò Văn N1 và chị Lường Thị N có trách nhiệm thanh toán cho anh Lò Văn V và chị Lò Thị Bích T tổng số tiền bồi thường chi phí khám, chữa bệnh, tiền đền bù tổn thất tinh thần và tiền mất thu nhập (trừ 1.000.000VNĐ anh Lò Văn N1 đã đưa trước cho anh V) là 24.777.000VNĐ.
+ Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho anh Lò Văn V và chị Lò Thị Bích T. Bị đơn anh Lò Văn N1, chị Lường Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Việm kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về tố tụng:
- Nguyên đơn chị Lò Thị Bích T và anh Lò Văn V đề nghị Tòa án buộc anh Lò Văn N1 và chị Lường Thị N (bố mẹ đẻ của cháu L) phải bồi thường tổng số tiền là 108.817.000VNĐ. Do cháu Lò Bảo L sinh ngày 12/3/2013 (chưa đủ 15 tuổi) và không trong thời gian nhà trường quản lý nên căn cứ khoản 4 Điều 69 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 586 Bộ luật Dân sự thì nguyên đơn khởi kiện đối với anh N1, chị N là phù hợp và bị đơn cư trú tại bản A, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La (nay là bản A, xã B1, tỉnh Sơn La) nên Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn (nay là Toà án nhân dân khu vực 4) thụ lý để giải quyết vụ án tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, phù hợp với quy định tại khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
- Về thời hiệu khởi kiện: Theo quy định tại Điều 588 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Việc nguyên đơn khởi kiện vụ án và được Toà án thụ lý vụ án vào ngày 20/02/2025 là vẫn đảm bảo đúng thời hiệu nên Hội đồng xét xử xem xét giải quyết vụ án tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại theo thủ tục chung.
- Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Lò Thị Bích T vắng mặt nhưng đã có uỷ quyền cho anh Lò Văn V. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về căn cứ yêu cầu bồi thường:
Nguyên đơn chị Lò Thị Bích T và anh Lò Văn V khởi kiện vụ án yêu cầu bồi thường thiệt hại do sự việc va chạm xảy ra giữa chị Lò Thị Bích T và cháu Lò Bảo L (sinh ngày 12/3/2013) vào ngày 07/01/2025 dẫn tới việc chị T bị gãy đầu trên của xương chày (bong điểm bám gân bánh chè gối trái), rách khớp sụn đầu gối trái phải tiến hành phẫu thuật kết hợp xương.
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, bị đơn đều xác nhận có sự việc va chạm xảy ra ngày 07/01/2025 giữa chị Lò Thị Bích T và cháu Lò Bảo L tại đường cách cổng chào bản A, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La (nay là bản A, xã B1, tỉnh Sơn La) và sự việc xảy ra không có ai chứng kiến, không có camera ghi hình được và khi đó các bên thống nhất giải quyết dân sự nên đã không báo sự việc cho cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, sau đó ban quản lý bản A đã nhận được thông tin và tổ chức hòa giải cho các bên đương sự.
Tòa án đã tiến hành xác minh với ông Lò Văn P – Trưởng bản A; bà Hoàng Thị M và bà Quàng Thị H là những người có mặt tại hiện trường sau khi sự việc va chạm xảy ra. Qua xác minh, ông P, bà M, bà H đều xác nhận ngày 07/01/2025 có sự việc va chạm xảy ra giữa chị Lò Thị Bích T và cháu Lò Bảo L; các ông, bà không được chứng kiến sự việc trực tiếp mà chỉ đến nơi sau đó và có thấy chị T ngồi ở bên phải đường theo hướng chị T đi từ bản A ra xã B, chị T bị thương ở chân được gia đình đưa đi viện khám chữa, cháu L cũng nói đau ở vùng bụng và được gia đình đưa đi khám tại bệnh viện cùng với chị T.
Ông P cũng cho biết: Ban quản lý bản A đã tổ chức hòa giải cho gia đình chị T, anh V với gia đình anh N1, chị N vào các ngày 09/01/2025 và 24/01/2025; tại buổi hòa giải các bên xác nhận chị T và cháu L di chuyển ngược chiều, cháu L có đi sang phần đường của chị T, chị T di chuyển tốc độ nhanh nên hai bên đã xảy ra va chạm. Gia đình chị T yêu cầu gia đình anh N1 bồi thường 2/3 chi phí điều trị của chị T vì sau đó chị T còn phải phẫu thuật tháo phương tiện cố định xương nhưng gia đình anh N1 chỉ chấp nhận chi trả 1/2 chi phí điều trị cho chị T nên buổi hòa giải không thành.
Căn cứ khoản 1 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định sự việc va chạm giữa chị Lò Thị Bích T và cháu Lò Bảo L là sự kiện có thật dẫn tới hậu quả chị Lò Thị Bích T bị gãy đầu trên của xương chày (bong điểm bám gân bánh chè gối trái), rách khớp sụn đầu gối trái phải tiến hành phẫu thuật kết hợp xương và phẫu thuật tháo phương tiện kết hợp xương. Do đó, căn cứ vào các Điều 584, 586, 588 Bộ luật Dân sự có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lò Thị Bích T và anh Lò Văn V về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với anh Lò Văn N1 và chị Lường Thị N.
Về số tiền bồi thường
Đối với yêu cầu bồi thường chi phí viện phí, tiền thuốc và chi phí đi lại khám chữa bệnh là 26.817.000VNĐ.
Nguyên đơn đã nộp các hóa đơn, chứng từ chi phí khám chữa bệnh gồm:
- Điều trị tại bệnh viện đa khoa Mai Sơn từ ngày 07/01/2025 đến ngày 16/01/2025: 7.408.758VNĐ (bảo hiểm y tế thanh toán 7.038.320VNĐ; bệnh nhân chi trả 370.437.000VNĐ).
- Khám bệnh tại bệnh viện Việt Đức – Hà Nội liên quan đến thương tích tại chân ngày 20/01/2025: 1.599.900VNĐ + 287.800VNĐ + 4.643.300VNĐ = 6.531.000VNĐ.
- Khám bệnh tại bệnh viện đa khoa Mai Sơn ngày 06/02/2025: 338.600VNĐ (bảo hiểm y tế thanh toán 338.600VNĐ; bệnh nhân chi trả 0VNĐ).
- Khám bệnh tại bệnh viện đa khoa Mai Sơn ngày 24/02/2025: 118.000VNĐ (bảo hiểm y tế thanh toán 118.000VNĐ; bệnh nhân chi trả 0VNĐ).
- Khám bệnh tại bệnh viện đa khoa Mai Sơn ngày 13/6/2025: 150.000VNĐ (bảo hiểm y tế thanh toán 115.000VNĐ; bệnh nhân chi trả 0VNĐ).
- Phẫu thuật tháo phương tiện kết hợp xương tại bệnh viện đa khoa Mai Sơn và điều trị cho chị T tại bệnh viện từ ngày 24/7/2025 đến ngày 31/7/2025: 5.250.990VNĐ (bảo hiểm y tế thanh toán 4.846.890VNĐ; bệnh nhân chi trả 404.099VNĐ).
Tổng chi phí khám, chữa bệnh cho chị T liên quan đến thương tích tại chân là 19.797.348VNĐ, trong đó bảo hiểm y tế thanh toán 12.491.810VNĐ, bệnh nhân thanh toán 7.305.538VNĐ.
Nguyên đơn kê khai chi phí đi lại: ngày 07/01/2025 (không mất chi phí), ngày 20/01/2025 là 3.400.000VNĐ, ngày 06/02/2025 là 200.000VNĐ, ngày 24/02/2025 là 200.000VNĐ, ngày 13/6/2025 là 500.000VNĐ, ngày 31/7/2025 là 200.000VNĐ. Tổng chi phí đi lại là 4.500.000VNĐ. Xét thấy mặc dù anh V, chị T không xuất trình được hóa đơn, chứng từ nhưng việc chị T bị thương tích ở chân và phải thuê xe di chuyển đi khám, chữa bệnh là thực tế nên cần được chấp nhận xem xét chi phí đi lại 06 lần trên cho nguyên đơn.
Hội đồng xét xử xét thấy sự việc va chạm xảy ra ngày 07/01/2025 giữa chị Lò Thị Bích T và cháu Lò Văn L là sự kiện có thật nhưng không có người chứng kiến, không có camera ghi lại hình ảnh hay biên bản hiện trường do cơ quan có chức năng lập. Chị Lò Thị Bích T là người không có giấy phép lái xe mô tô, điều khiển xe mô tô loại xe thồ, không đảm bảo về an toàn, trong khi đó cháu Lò Văn L chưa đủ 12 tuổi và có giấy xác nhận khuyết tật trí tuệ mức độ nhẹ của Ủy ban nhân dân xã Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La nhưng vẫn sử dụng xe đạp điện. Do đó, cần cân nhắc sự việc xảy ra là sự kiện không do cố ý nhưng đều có lỗi của cả chị T và cháu L. Việc chị T hay cháu L vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là vi phạm hành chính không liên quan đến trách nhiệm bồi thường khi có thiệt hại xảy ra, không bù trừ cho nhau. Do đó, căn cứ thiệt hại của nguyên đơn cần buộc mỗi bên chịu 1/2 chi phí điều trị (trừ đi phần bảo hiểm đã thanh toán) là 3.653.000VNĐ, chi phí đi lại là 2.250.000VNĐ mà gia đình chị T đã chi trả là phù hợp với quy định tại các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự.
Ngoài ra, anh V và gia đình anh N1, chị N đều xác nhận việc anh N1, chị N đã từng đến thăm hỏi và bồi thường cho chị T số tiền 1.000.000VNĐ.
Đối với yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần, sức khỏe cho chị Lò Thị Bích T là 10.000.000VNĐ.
Căn cứ khoản 2 Điều 590 Bộ luật Dân sự thì “Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định”. Trường hợp này chị Lò Thị Bích Trang là người bị xâm phạm về sức khỏe nên yêu cầu bồi thường về tổn thất tinh thần là phù hợp.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định số 73/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ thì từ ngày 01/7/2024 mức lương cơ sở là 2.340.000VNĐ/tháng. Hội đồng xét xử xét thấy: Chị T được phẫu thuật gắn phương tiện kết hợp xương từ tháng 01/2025 đến tháng 7/2025 thì được phẫu thuật tháo phương tiện kết hợp xương; chị T bị thương tích ở chân và khó khăn trong việc đi lại, lao động trong thời gian hơn 06 tháng trên nên cần buộc bị đơn bồi thường tổn thất về tinh thần cho chị T 03 lần mức lương cơ sở là phù hợp (03 x 2.340.000VNĐ = 7.020.000VNĐ).
Đối với yêu cầu bồi thường tiền mất thu nhập cho chị Lò Thị Bích T là 36.000.000VNĐ và tiền mất thu nhập cho anh Lò Văn V là 36.000.000VNĐ.
Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 590 Bộ luật Dân sự thì thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm cả “Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại”. Chị T và anh V đều là lao động tự do trong nông nghiệp nên thu nhập không ổn định và không xác định được chính xác.
Theo quy định tại Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ thì từ ngày 01/7/2024 mức lương tối thiểu tại huyện Mai Sơn (vùng IV) là 3.450.000VNĐ/tháng (xã Mai Sơn hiện nay thuộc huyện Mai Sơn cũ). Tại khoản 1 Điều 111 Bộ luật Lao động quy định: “Mỗi tuần người lao động được nghỉ ít nhất 24 giờ liên tục. Trong trường hợp đặc biệt do chu kỳ lao động không thể nghỉ hằng tuần thì người sử dụng lao động có trách nhiệm bảo đảm cho người lao động được nghỉ tính bình quân 01 tháng ít nhất 04 ngày”. Như vậy, thì ngày lương tối thiểu vùng là: 3.450.000VNĐ : 26 ngày = 133.000VNĐ.
Chị T phải gắn phương tiện kết hợp xương từ ngày 07/01/2025 đến ngày 31/7/2025 (06 tháng 24 ngày); thời gian này chị không thể đi lại và khó khăn trong lao động nên không đảm bảo thu nhập. Do đó cần buộc bị đơn bồi thường 03 tháng 12 ngày lương cho chị T, cụ thể: 3 tháng x 3.450.000VNĐ + 12 ngày x 133.000VNĐ = 11.946.000VNĐ.
Đối với yêu cầu bồi thường tiền mất thu nhập của anh Lò Văn V: Chị Lò Thị Bích T điều trị, khám chữa thương tích trong 22 ngày (từ ngày 07/01/2025 đến ngày 16/01/2025, ngày 20/01/2025, ngày 06/02/2025, ngày 24/02/2025, ngày 13/6/2025, từ ngày 24/7/2025 đến ngày 31/7/2025). Trong những ngày chị T điều trị và tái khám tại bệnh viện cần người chăm sóc, hỗ trợ nên Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận việc anh V mất thu nhập trong những ngày trên. Tuy nhiên, sự việc xảy ra không có lỗi của anh V nên cần buộc bị đơn bồi thường tiền mất thu nhập cho anh V đủ 22 ngày, cụ thể: 22 ngày x 133.000VNĐ = 2.926.000VNĐ.
Xét yêu cầu của bị đơn:
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Lò Văn N1 và chị Lường Thị N trình bày việc sau va chạm cháu Lò Bảo L có bị gãy xương sườn kín và cũng phải nghỉ học để điều trị sức khoẻ. Tuy nhiên, anh N1, chị N, cháu L không có yêu cầu cụ thể đối với nguyên đơn về những chi phí liên quan hay có yêu cầu bồi thường nào khác. Tại phiên toà ngày 08/8/2025, anh N1, chị N đã nộp bổ sung 01 hoá đơn của cửa hàng Long Hà ngày 06/8/2025 về mua thiết bị xe, 01 giấy giao nhận tiền ngày 03/3/2025 giữa ông Lò Văn N1 và ông Lường Văn L1, 01 giấy xác nhận ngày 15/3/2025 liên quan đến chi phí điều trị, mất thu nhập của gia đình anh N1, chị N và cháu L. Tuy nhiên, trong thời gian chuẩn bị xét xử bị đơn không có yêu cầu phản tố; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập nên Hội đồng xét xử không xem xét đến. Trường hợp có yêu cầu, bị đơn anh Lò Văn N1, chị Lường Thị N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu Lò Bảo L có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 26; điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị đơn anh Lò Văn N1 và chị Lường Thị N phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Tòa án chấp nhận theo quy định của pháp luật; Nguyên đơn chị Lò Thị Bích T, anh Lò Văn V được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 584, 585, 586, 588, 590 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 147, khoản 2 Điều 228; Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26, điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Lò Văn V và chị Lò Thị Bích T:
- Buộc anh Lò Văn N1 và chị Lường Thị N liên đới bồi thường cho chị Lò Thị Bích T tổng số tiền là 24.869.000VNĐ ( Hai mươi tư triệu tám trăm sáu mươi chín nghìn đồng) trong đó gồm: tiền viện phí là 3.653.000VNĐ, tiền chi phí đi lại là 2.250.000VNĐ, tiền bồi thường tổn thất tinh thần là 7.022.000VNĐ, tiền mất thu nhập là 11.946.000VNĐ. Chấp nhận việc anh Lò Văn N1, chị Lường Thị N đã bồi thường số tiền 1.000.000VNĐ cho chị T. Anh N1 và chị N còn phải tiếp tục bồi thường cho chị T số tiền là 23.869.000VNĐ.
- Buộc anh Lò Văn N1 và chị Lường Thị N liên đới bồi thường cho anh Lò Văn V tiền mất thu nhập là 2.926.000VNĐ (hai triệu chín trăm hai mươi sáu nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của anh Lò Văn V và chị Lò Thị Bích T cho đến khi thi hành án xong, anh Lò Văn N1 và chị Lường Thị N còn phải chịu lãi suất chậm trả tương ứng với số tiền chậm trả và thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.
2. Về án phí: Anh Lò Văn V, chị Lò Thị Bích T được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho nguyên đơn anh Lò Văn V số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 900.000VNĐ (Chín trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002409 ngày 20 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 4 – Sơn La).
Anh Lò Văn N1, chị Lường Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 1.390.000VNĐ (một triệu ba trăm chín mươi nghìn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 03/9/2025).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND khu vực 4; - THADS tỉnh Sơn La; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Phương Thuý |