vanban.org

Bản án 10/2024/KDTM-ST — Tranh chấp về mua bán hàng hóa

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH A đối với Công ty TNHH MTV T1 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.

Buộc Công ty TNHH MTV T1 có trách nhiệm thanh toán cho Công ty TNHH A số tiền 21.288.300 đồng (hai mƣơi mốt triệu hai trăm tám mƣơi tám nghìn ba trăm đồng). Kể từ ngày ngƣời đƣợc thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi củ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Công ty TNHH A tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa với bị đơn Công ty TNHH MTV T1"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH A đối với Công ty TNHH MTV T1 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 10/2024/KDTM-ST
Ngày 14 - 02 - 2025
V/v tranh chấp hợp đồng mua
bán hàng hóa.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN T NH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Kiều Thị Uyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hoàn.

2. Ông Tô Văn Nhung.

- Thư ký phiên tòa: ông Trần Hồng Sơn - Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thúy An - Kiểm sát viên.

Vào ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thƣơng mại thụ lý số: 132/2024/KDTM-ST ngày 28 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 74/2024/QĐXXST-KD ngày 26 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025/QQĐST-KDTM ngày 14/01/2025, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH A; địa chỉ: đƣờng số A, KCN Đ, phƣờng R, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Người đại diện hợp pháp: bà Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1994, địa chỉ liên lạc: đƣờng số A, KCN Đ, phƣờng R, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, là ngƣời đại diện theo pháp luật, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Công ty TNHH MTV T1; địa chỉ: số A, tổ B, khu phố B, phƣờng B, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng.

Người đại diện hợp pháp: Ông Lƣơng Văn Q, sinh năm 1973; địa chỉ: số A, tổ B, khu phố B, phƣờng B, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng là ngƣời đại diện theo pháp luật

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình tố tụng người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Công ty TNHH A là bà Nguyễn Ngọc T trình bày:

Công ty TNHH A (sau đây viết tắt là ALPHABET) và Công ty TNHH MTV T1 (sau đây viết tắt là Thiên Q1) đã có giao dịch mua bán hàng hóa với nhau từ tháng 3/2023. Do mua hàng hóa với số lƣợng không lớn nên các bên không ký kết hợp đồng mua bán hàng. Về phƣơng thức giao dịch giữa các bên nhƣ sau: Thiên Quang liên lạc qua zalo cho ALPHABET để đặt hàng, căn cứ và yêu cầu đặt hàng của Thiên Q1 thì ALPHABET sẽ gửi báo giá để Thiên Q1 xác nhận, sau khi xác nhận báo giá thì ALPHABET sẽ giao hàng cho Thiên Q1 tại địa chỉ A, tổ B, khu phố B, phƣờng B, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, khi giao hàng có biên bản giao nhận hàng hóa và xuất hóa đơn điện tử gửi email cho Thiên Q1. Thời gian đầu khi thực hiện hợp đồng mua bán thì Thiên Q1 thanh toán tiền trƣớc cho ALPHABET ngay sau khi xác nhận đơn hàng, sau khi đã nhận đƣợc tiền thì ALPHABET giao hàng cho Thiên Q1. Tuy nhiên, đối với các hàng hóa của 04 lần giao hàng cuối cùng thì Thiên Q1 không thực hiện thanh toán nhƣ các bên đã thỏa thuận, do tin tƣởng nên vẫn giao hàng cho Thiên Q1 mặc dù chƣa nhận đƣợc tiền thanh toán tiền hàng của các lần thanh toán trƣớc, tính đến nay Thiên Q1 còn nợ ALPHABET số tiền hàng là 25.788.300 đồng, cụ thể nhƣ sau:

Ngày 14/04/2023 ALPHABET có gửi báo giá theo nhu cầu mua hàng của Thiên Q1 là số báo giá 2023.04.50.1163230 - 10kg bột sơn màu nâu ánh kim với tổng giá trị cho đơn hàng 1.500.000 đồng, tại xác nhận đơn hàng có thỏa thuận thanh toán 100% ngay khi nhận đơn đặt hàng. ALPHABET nhận lại đƣợc bản báo giá có ký xác nhận đặt hàng từ Thiên Quang nhƣng không nhận đƣợc thanh toán. Ngày 17/04/2023 A giao hàng cho Thiên Q1 đồng thời xuất hóa đơn giá trị gia tăng số 78 ký hiệu 1C23TAA, ALPHABET gửi hóa đơn qua email cho Thiên Q1 cùng ngày.

Ngày 17/04/2023 A cũng nhận đƣợc nhu cầu đặt hàng cho báo giá số 2023.04.50.1169225 - 150kg bột màu đen mờ. Ngày 22/04/2023 ALPHABET giao hàng của nhu cầu báo giá số 2023.04.50.1169225 đƣợc 149kg với tổng giá trị 10.325.700 và Thiên Q1 cũng ký nhận trên biên bản giao hàng. Hóa đơn giá trị gia tăng đƣợc xuất số 81 ký hiệu 1C23TAA, ALPHABET gửi hóa đơn qua email cho Thiên Q1 cùng ngày.

Ngày 24/04/2023 ALPHABET gửi báo giá cho Thiên Q1 số 2023.04.50.1173587 - 25kg bột sơn màu trắng cát với tổng giá trị là 3.000.000, ALPHABET nhận đƣợc xác nhận đặt hàng thông qua tin nhắn Zalo. Ngày 26/04/2023 A giao hàng cho Thiên Q1 và có ký biên bản nhận hàng từ Thiên Quang, đồng thời xuất hóa đơn giá trị gia tăng số 88 ký hiệu 1C23TAA, ALPHABET gửi hóa đơn qua email cho Thiên Q1 cùng ngày.

Ngày 25/05/2023 ALPHABET có gửi báo giá cho Thiên Q1 số 2023.05.10.1204660 - 150kg bột sơn màu đen cát, ALPHABET nhận đƣợc xác nhận đặt thông qua tin nhắn Zalo.

Ngày 30/05/2023 ALPHABET giao hàng cho Thiên Quang của nhu cầu báo giá số 2023.05.10.1204660 đƣợc 151kg với tống giá trị là 10.962.600 và có ký biên bản nhận hàng từ Thiên Quang đồng thời xuất hóa đơn giá trị gia tăng số 110 ký hiệu 1C23TAA, ALPHABETgửi hóa đơn qua email cho Thiên Q1 cùng ngày.

Thiên Quang không thực hiện việc trả tiền đúng theo thỏa thuận, ALPHABET đã nhiều lần liên lạc nhƣng không đƣợc thanh toán nợ từ Thiên Q1. Ngày 15/08/2023 A có gửi bảng xác nhận công nợ cho 4 hóa đơn trên. Nhƣng Thiên Q1 chỉ ký xác nhận 2 hóa đơn số 81 và số 110 là đang nợ, còn lại hóa đơn số 78 và 88 thì Thiên Q1 không ký bảng xác nhận công nợ dù trƣớc đó Thiên Q1 có ký xác nhận đặt hàng và thông báo xuất hóa đơn cho cá nhân chị L.

Đối với 02 hóa đơn xuất tên bà L và không có ký công nợ thì nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, nay ALPHABET khởi kiện yêu cầu Thiên Quang thanh toán số tiền mua hàng còn thiếu là 21.288.300 đồng của Hóa đơn giá trị gia tăng số 81 ký hiệu 1C23TAA và hóa đơn giá trị gia tăng số 110 ký hiệu 1C23TAA, không yêu cầu tính lãi.

- Đối với bị đơn Công ty TNHH MTV T1:

Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự để ngƣời đại diện hợp pháp của bị đơn Công ty TNHH MTV T1 tham gia giải quyết vụ án nhƣng bị đơn vắng mặt không có lý do. Đồng thời, Tòa án đã yêu cầu Công ty TNHH MTV T1 có ý kiến trả lời bằng văn bản đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhƣng Công ty TNHH MTV T1 không có ý kiến cũng nhƣ không cung cấp tài liệu, chứng cứ về quá trình mua hàng hóa cũng nhƣ việc trả tiền gốc và lãi cho nguyên đơn Công ty TNHH A.

- Tại văn bản số 2569/ĐKKD ngày 04/12/2024 Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh B cung cấp thông tin: Công ty TNHH MTV T1, mã số doanh nghiệp C, đăng ký lần đầu ngày 18/07/2014, đăng ký thay đổi lần thứ hai ngày 21/04/2020; địa chỉ trụ sở chính: số A, tổ B, khu phố B, phƣờng B, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng; ngƣời đại diện theo pháp luật: ông Lƣơng Văn Q. Tình trạng pháp lý: đang hoạt động (theo thông báo của cơ quan thuế tại Hệ thống Thông tin đăng ký doanh nghiệp Quốc gia ngày 27/3/2023, thục hiện quy trình liên thông giữa Cơ quan thuế và Cơ quan đăng ký kinh doanh theo quy định tại Thông tƣ liên tịch số 01/2016/TTLT-BKHĐT-BTC ngày 23/02/2016). Hiện tại phòng Đăng ký kinh doanh chƣa nhận hồ sơ đăng ký thay đổi nội dung giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, hồ sơ tạm ngừng hay giải thể của doanh nghiệp nêu trên.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: quá trình tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đối với bị đơn đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhƣng không chấp hành theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, phù hợp với quy định của pháp luật. Đối với yêu cầu khởi kiện còn lại của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán số tiền hàng có thiếu theo 02 Hóa đơn giá trị gia tăng số 81 ký hiệu 1C23TAA và hóa đơn giá trị gia tăng số 110 ký hiệu 1C23TAA với tổng số tiền là 21.288.300 đồng và không yêu cầu tính lãi là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc xem xét tại phiên tòa, ý kiến của của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn là Công ty TNHH A COATINGS khởi kiện bị đơn là Công ty TNHH MTV T1 có trụ sở tại số A, tổ B, khu phố B, phƣờng B, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng phải trả số tiền mua hàng còn nợ nên đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đƣợc quy định tại khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về sự vắng mặt của đƣơng sự: Ngƣời đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn đã đƣơc triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa vào các ngày 14/01/202 và ngày 14/02/2025 nhƣng vắng mặt không có lý do. Nên căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đƣơng sự.

Về quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ: Bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và không cung cấp bất cứ chứng cứ gì, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy, bị đơn phải chịu hậu quả do việc không cung cấp chứng cứ theo quy định tại Điều 91 và Điều 96 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đƣợc xem xét trên cơ sở chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và tài liệu chứng cứ do Tòa án thu thập đƣợc.

Về phạm vi khởi kiện: nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu bị đơn thanh toán tiền hàng còn thiếu của 02 Hóa đơn giá trị gia tăng số 81 ký hiệu 1C23TAA và hóa đơn giá trị gia tăng số 110 ký hiệu 1C23TAA với tổng số tiền là 21.288.300 đồng và không yêu cầu tính lãi đây là ý chí tự nguyện của nguyên đơn nên căn cứ Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử chỉ xem xét phạm vi trong yêu cầu khởi kiện còn lại của nguyên đơn.

Xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng:

Căn cứ email trao đổi, phiếu đặt hàng, phiếu nhận hàng, hóa đơn giá trị gia tăng có căn cứ xác định giữa Công ty TNHH A và Công ty TNHH MTV T1 đã có giao dịch mua bán hàng hóa, việc các bên tiến hành giao dịch mua bán hàng hóa là tự nguyện, không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội nên các bên phải thực hiện theo thỏa thuận giao dịch.

Căn cứ vào biên bản xác nhận công nợ số 20230815.04 ngày 15/8/2023 giữa Công ty TNHH A và Công ty TNHH MTV T1 ghi nhận đến hết ngày 15 tháng 8 năm 2020 Công ty TNHH MTV T1 còn nợ bên Công ty TNHH A tổng số tiền là 21.288.300 đồng, Biên bản xác nhận công nợ có chữ ký và dấu của Công ty TNHH MTV T1 phù hợp với hóa đơn giá trị gia tăng số 81 ký hiệu 1C23TAA và hóa đơn giá trị gia tăng số 110 ký hiệu 1C23TAA, xác định tổng số tiền hàng Công ty TNHH MTV T1 đã mua của Công ty TNHH A với tổng số tiền là 21.288.300 đồng, đến nay bị đơn không thanh toán tiền hàng cho nguyên đơn là vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại Điều 55 Luật Thƣơng mại. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền hàng còn thiếu là 21.288.300 đồng là có cơ sở chấp nhận.

Từ những phân tích nêu trên, có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên đƣợc Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Bị đơn Công ty TNHH MTV T1 phải chịu án phí đối với số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn Công ty TNHH A.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 96, 227, 228, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 50 của Luật Thƣơng mại; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH A đối với Công ty TNHH MTV T1 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.

Buộc Công ty TNHH MTV T1 có trách nhiệm thanh toán cho Công ty TNHH A số tiền 21.288.300 đồng (hai mƣơi mốt triệu hai trăm tám mƣơi tám nghìn ba trăm đồng).

Kể từ ngày ngƣời đƣợc thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí kinh doanh, thƣơng mại sơ thẩm: Công ty TNHH MTV T1 phải chịu 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). Trả lại cho Công ty TNHH A 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001969 ngày 27/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; ngƣời đƣợc thi hành án, ngƣời phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ