vanban.org

Bản án 10/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 22/04/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tội danh và hình phạt:

Tuyên bố Bị cáo NVND phạm tội “Chống người thi hành công vụ”. Trả tự do cho bị cáo NVND ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị giam giữ về tội nào khác. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chống người thi hành công vụ - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠC THỦY
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2024/HS-ST.
Ngày: 22/032024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC THỦY, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thái Hùng Dũng.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Dương - Thư ký viên chính Tòa án nhân dân huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Thủy, tỉnh Hoà Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trần Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 03 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 03 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn số: 07/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 03 năm 2024 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: NVND, sinh ngày: 21/5/2004; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú (HKTT): khu phố TL, phường QT, thành phố (TP) SS, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: thiên chúa giáo; Trình độ văn hoá: 08/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: NVT, sinh năm 1978; Con bà: NTD, sinh năm 1980; Cùng có HKTT: khu phố TL, phường QT, TP SS, tỉnh Thanh Hóa; Vợ, con: Chưa.

* Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/02/2024 đến nay tại Nhà Tạm giữ, tạm giam Công an huyện Lạc Thủy. Có mặt tại phiên tòa.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh NVTh, sinh năm 1989, vắng mặt. Địa chỉ: K2, thị trấn CN, huyện LTh1, tỉnh Hoà Bình.

- Anh NHD1, sinh năm 2005, vắng mặt. Địa chỉ: Khu phố ThH, phường QC, TP SS, tỉnh Thanh Hóa.

- Anh T ĐH1, sinh năm 2002, vắng mặt. Địa chỉ: Khu phố QV, phường QC, TP SS, tỉnh Thanh Hóa.

3. Người làm chứng:

- Anh NHC, sinh năm 1985, vắng mặt; Anh TQN, sinh năm 1985, vắng mặt. Cùng địa chỉ: TP, PTh, huyện LTh1, tỉnh Hoà Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Thực hiện Kế hoạch công tác số 246/KH-CAH-CSGT ngày 27/11/2023 và Kế hoạch công tác số 24/KH-CAH-CSGT ngày 31/01/2024 của Công an huyện Lạc Thủy, Đội Cảnh sát giao thông - trật tự Công an huyện Lạc Thủy đã được Trưởng Công an huyện phê duyệt phân công thực hiện nhiệm vụ theo đúng kế hoạch. Ngày 11/02/2024, lực lượng Cảnh sát giao thông (CSGT) - trật tự phối hợp với lực lượng Công an xã Phú Thành, huyện Lạc Thủy tổ chức tuần tra lưu động kết hợp dừng xe kiểm tra nồng độ cồn để xử lý các hành vi vi phạm Luật giao thông đường bộ; lực lượng tổ tuần tra được phân công gồm: anh HLH là Đội trưởng Đội Cảnh sát giao thông trật tự và anh T ĐTh2, anh ĐTPh, anh NVTh, anh NTA là cán bộ của Đội Cảnh sát giao thông trật tự phối hợp cùng các anh NAT2 và anh ĐGN1 là Cán bộ của Công an xã Phú Thành.

Khoảng 08 giờ 30 ngày 11/02/2024, khi tổ tuần tra đến khu vực thôn Rị, xã xã Phú Thành, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình lập chốt để kiểm tra, chốt 1 gồm các anh: anh T ĐTh2 và anh ĐGN1 đứng trước UBND xã Phú Thành thì phát hiện NVND điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS): 36N1 - 167.65 lắp thêm bô nổ chở theo NHD1 lạng lách đánh võng, đi tốc độ cao theo từ hướng đường Hồ Chí Minh đi xã Phú Nghĩa nên ra hiệu chặn dừng để kiểm tra nhưng NVND không dừng do không có giấy phép lái xe và chở theo người ngồi phía sau không đội mũ bảo hiểm, tiếp tục tăng ga điều khiển xe vượt qua chốt, lúc này anh T ĐTh2 điện đàm báo cáo tổ công tác để hỗ trợ yêu cầu chặn, dừng xe. Lúc này tại chốt thứ 2 gồm: các anh Hoàng Lê Hà, anh ĐTPh, anh NTA đang đứng làm nhiệm vụ dừng phương tiện để kiểm tra nồng độ cồn (Cách chốt 1 khoảng 500m), anh Hà ra tín hiệu yêu cầu dừng xe nhưng NVND không chấp hành hiệu lệnh, điều khiển xe lạng lách đi sang phần đường bên trái để vượt chốt. Anh NVTh- Cán bộ Đội CSGT-TT cùng anh NAT2- cán bộ của Công an xã Phú Thành được phân công lập biên bản tại khu đất trống bên trái đường hướng Phú Thành đi CN sau khi nghe thông báo qua bộ đàm đi ra để hỗ trợ thì bị xe mô tô của NVND điều khiển đâm va vào chân anh NVTh, xe mô tô bị đổ ngã xuống đường, hậu quả anh NVTh và NHD1 bị thương tích được đưa đi cấp cứu.

Ngày 21 tháng 02 năm 2024, Cơ quan cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an huyện Lạc Thủy ra Quyết định trưng cầu giám định, trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Hòa Bình giám định thương tích đối với anh NVTh. Tại Kết luận giám định thương tích số 36/KLTTCT-TTPY ngày 23/02/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Hòa Bình kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh NVTh tại thời điểm giám định là 12% (Mười hai phần trăm).

Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 11/QĐ-VKS ngày 05/03/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Thủy đã truy tố NVND về tội “Chống người thi hành công vụ” được quy định tại Khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự (BLHS).

* Tại phiên tòa:

- Bị cáo thừa nhận hành vi như nội dung của Quyết định truy tố.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Thủy giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

+ Áp dụng Khoản 1 Điều 330; Điều 65; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của BLHS xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.

+ Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS đề nghị: Trả lại cho bị cáo xe mô tô có BKS: 36N1-167.65.

+ Về trách nhiệm dân sự: anh NVTh và NHD1 không có yêu cầu bồi thường đối với bị cáo nên không đề cập giải quyết.

+ Án phí và quyền kháng cáo áp dụng theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đề nghị của Viện kiểm sát; Đề nghị HĐXX xem xét, áp dụng cho bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, Quyết định tố tụng: Cơ quan CSĐT Công an huyện Lạc Thuỷ, Điều tra viên; VKSND huyện Lạc Thuỷ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ khẳng định:

Khoảng 08 giờ 30 ngày 11/02/2024 NVND điều khiển xe mô tô BKS: 36N1

- 167.65 chở theo NHD1 đã không chấp hành tín hiệu dừng xe của chốt thứ nhất gồm các anh: anh T ĐTh2 và anh ĐGN1 đứng tại trước UBND xã Phú Thành. NVND tiếp tục tăng ga điều khiển xe vượt qua chốt, anh T ĐTh2 điện đàm báo cáo tổ công tác để hỗ trợ yêu cầu chặn, dừng xe. Tại chốt thứ hai (Cách chốt 1 khoảng 500m), anh HLHra tín hiệu yêu cầu dừng xe nhưng NVND không chấp hành hiệu lệnh, điều khiển xe lạng lách đi sang phần đường bên trái đường để vượt chốt. Anh NVTh được phân công lập biên bản tại khu đất trống bên trái đường hướng Phú Thành đi CN sau khi nghe thông báo qua bộ đàm đi ra để hỗ trợ thì bị xe mô tô của NVND điều khiển đâm va vào chân anh NVTh, xe mô tô bị đổ ngã xuống đường, hậu quả thương tích cho anh NVTh và NHD1.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Chống người thi hành công vụ thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 330 BLHS. Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Thủy truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính nên cần áp dụng hình phạt để giáo dục bị cáo thành người công dân tốt.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và hình phạt đối với bị cáo:

* Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS).

* Về tình tiết giảm nhẹ:

Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm i, s Khoản 1 Điều 51 BLHS do bị cáo lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Từ giai đoạn điều tra đến phiên tòa hôm nay đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Trong gia đình có người có công với cách mạng (Ông, Bà nội tham gia thanh niên xung phong). Đây là tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại Khoản 2 Điều 51 BLHS.

Xét thấy đối với bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 BLHS, hành vi phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên căn cứ vào Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn về án treo thấy không cần thiết phải buộc bị cáo chấp hành án phạt tù, bị cáo vẫn có khả năng tự cải tạo. Cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội (cho bị cáo hưởng án treo) không gây nguy hiểm cho xã hội và không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự của xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Thương tích do NVND gây ra cho anh NVTh và NHD1, không có ai yêu cầu NVND phải bồi thường thiệt hại. Nên HĐXX không xem xét giải quyết.

. Về vật chứng vụ án: Đề nghị của Đại diện VKSND tại phiên tòa là phù hợp nên HĐXX chấp nhận.

. Các vấn đề khác:

Sau khi xảy ra sự việc Cơ quan Công an đã tiến hành xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của NVND kết quả là: 61 mg/dl (Sáu mươi mốt miligam trên dlít khí thở). Cùng với hành vi điều khiển xe mô tô của NVND không có giấy phép lái xe, có nồng độ cồn trong máu vượt quá quy định và chở theo người ngồi phía sau không đội mũ bảo hiểm đã vi phạm Luật giao thông đường bộ. CQĐT đã chuyển để xử lý hành chính. HĐXX cho là phù hợp.

Đối với NHD1 là người ngồi sau xe mô tô do bị cáo điều khiển, không biết, không liên quan đến việc NVND không chấp hành hiệu lệnh của lực lượng chức năng. Thương tích của NHD1 do NVND gây ra, là thương tích nhẹ NHD1 đã viết đơn từ chối giám định nên CQĐT không đề cập xem xét. HĐXX cho là phù hợp.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo được tuyên theo quy định tại Điều 331 BLTTHS.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tội danh và hình phạt:

Tuyên bố Bị cáo NVND phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

Căn cứ Khoản 1 Điều 330; Điều 65, điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án.

Trả tự do cho bị cáo NVND ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị giam giữ về tội nào khác.

Giao bị cáo NVND cho UBND phường QT, TP SS, tỉnh Thanh Hóa quản lý và giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu bị cáo cho hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS:

Trả lại cho bị cáo xe mô tô có BKS: 36N1-167.65.

(Vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình)

3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 BLTTHS và điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo bị kết án phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Thời hạn kháng cáo là 15 (Mười lăm) ngày. Đối với bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tính từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt thì tính từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ