vanban.org

Bản án 10/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 12/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Khoản điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Điểm a, b Khoản 2 Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ; Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo L Đ H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 249 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Khoản điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Căn cứ chính? Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP Quy định về việc tính tổng khối l…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 10/2024/HS-ST
Ngày: 12 – 01 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Bạch Tuyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Công

Bà Lê Yến Loan

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Trung Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phốThuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 375/2023/TLST- HS ngày 21 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 348/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

L Đ H (tên gọi khác: Không), sinh năm 1998 tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn Cẩm, xã Vạn Hòa, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông L X H, sinh năm 1973 và bà L Th H, sinh năm 1972; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06 tháng 7 năm 2023 đến nay. Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Ng Đ A, sinh năm 1993; ông Quản Ngọc Kiên, sinh năm 1990. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

L Đ H là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 04/7/2023, H đi đến khu vực đường bờ kênh Ba Bò thuộc khu phố Đồng An 3, phường Bình Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương gặp đối tượng (chưa rõ lai lịch, địa chỉ, cao khoảng 1 mét 60, dáng người nhỏ, tóc ngắn màu đen, nói giọng miền Tây) mua ma túy dạng khay với giá 5.000.000 đồng và 05 viên thuốc lắc với giá 1.200.000 đồng rồi cất giấu trong người để mang về sử dụng. Sau đó, Hoàng đi đến quán bar D1 thuộc phường Bình Hòa, thành phố Thuận An lấy một ít ma túy dạng khay và 01 viên thuốc lắc ra sử dụng một mình.

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 05/7/2023, L Đ H cùng Ng Đ A là bạn bè quen biết ngoài xã hội thuê taxi Biển số 36A - 414.22 do ông Q Ng K điều khiển đến chung cư Tecco Home, Khu phố 1A, phường An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương để đón bạn là Tr V V cùng đi chơi tại quán bar “Central Club” thuộc thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Đến nơi, Đức Anh, H đợi V trong xe taxi dừng sát lề đường ĐT743 trước chung cư Tecco Home thì có lực lượng Công an phường An Phú, thành phố Thuận An tuần tra trên địa bàn phát hiện có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra. Lúc này, H lấy 01 túi nylon miệng kéo dính màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng và 01 túi nylon miệng kéo dính màu đen bên trong có 04 viên nén màu xám từ trong túi quần phía trước bên phải của quần jean lửng H đang mặc ra rồi bỏ xuống vị trí chỗ để chân của H trong taxi thì bị lực lượng Công an phát hiện nên lực lượng Công an tiến hành lập biên bản, niêm phong tang vật và đưa H, Đ A và Kiên về trụ sở làm việc.

Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) túi nylon miệng kéo dính màu trắng trong, chứa chất tinh thể màu trắng, nghi vấn ma túy dạng khay. Cân xác định khối lượng: 4,2703 gam.

- 01 (một) túi nylon miệng kéo dính màu đen, chứa 04 viên nén màu xám, nghi vấn ma túy thuốc lắc. Cân xác định khối lượng: 1,5861 gam.

Ngày 06/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An có Quyết định trưng cầu giám định số 548/QĐ-KT&MT trưng cầu Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương giám định đối với các chất thu giữ của Lê Đức Hoàng.

Căn cứ Kết luận giám định số 397/KL-KTHS(MT) ngày 14/7/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận:

1. Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, khối lượng: 4,2703 gam.

2. Viên nén gửi giám định là ma túy, loại MDMA, khối lượng: 1,5861 gam.

Bản Cáo trạng số 05/CT-VKS-TA ngày 20 tháng 12 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo L Đ H về tội ‘‘Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng và đề nghị:

- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lê Đức Hoàng từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

- Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số: 397/PC09 là mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương là vật chứng trong vụ án là vật cấm nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Bị cáo L Đ H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 08 tháng 01 năm 204 được Nhà tạm giữ Công an thành phố Thuận An xác nhận. Xét, đề nghị xét xử vắng mặt của bị cáo là tự nguyện, không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận và tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo theo quy định tại Khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thuận An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, vật chứng thu giữ có đủ cơ sở kết luận: Ngày 05/7/2023, tại trước chung cư Tecco Home, Đường ĐT 743, Khu phố 1A, phường An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, Lê Đức Hoàng đã có hành vi tàng trữ trái phép 4,2703 gam ma túy, loại Ketamine và 1,5861 gam ma túy, loại MDMA nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ.

Căn cứ Điểm a, b Khoản 2 Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định về việc tính tổng khối lượng chất ma túy, qua đó xác định tỷ lệ chất ma túy được tính như sau:

1. MDMA: 1,5861 gam/5gam x 100% = 31,722%.

2. Ketamine: 4,2703 gam/20gam x 100% = 21,3515%.

Tổng tỷ lệ phần trăm của các chất ma túy trên là 53,0735% < 100%.

Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo L Đ H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo L Đ H về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được việc làm của mình là vi phạm nhưng vì thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo vẫn cố tình thực hiện, cất giấu ma túy để sử dụng, hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định về chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác, hành vi của bị cáo còn gây mất trật tự, trị an tại địa phương, do đó, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng tính chất, hành vi phạm tội, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc áp dụng mức hình phạt tại phiên tòa có căn cứ, đúng luật, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên được chấp nhận.

Đối với người bán ma túy cho bị cáo Hoàng, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên khi nào xác định được sẽ xử lý sau.

Quá trình điều tra, xác định Ng Đ A và Q Ng K không biết L Đ H cất giấu ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An không tiến hành xử lý là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số: 397/PC09 là mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương là vật chứng trong vụ án là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

- Điều 106; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Điểm a, b Khoản 2 Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ;

- Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo L Đ H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo L Đ H 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 06 tháng 7 năm 2023.

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số: 397/PC09 là mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương. Có chữ ký của L Đ H, Ng Đ A (người chứng kiến); Đ Ng Th Q (cán bộ trả mẫu), Ng Tr Kh (cán bộ nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của phòng KTHS, Công an tỉnh Bình Dương, bên trong phong bì chứa chất ma túy đã được giám định,

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An).

3. Về án phí: Bị cáo L Đ H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Cỡ chữ