vanban.org

Bản án 10/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 29/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Thái Văn Bình A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Thái Văn Bình A 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính ngày 26/10/2023. Trách nhiệm dân sự và vật chứng: Không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Thái Văn Bình A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO LÃNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2024/HS-ST
Ngày: 29-01-2024

NHÂN DAH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Thọ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Phú Hữu

Ông Bùi Văn Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Kim Khuyên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Phú – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 01 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm (Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp) và điểm cầu thành phần (Trại Tạm giam Công A tỉnh Đồng Tháp) Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa trực tuyến xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2024/TLST-HS, ngày 05 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST-HS, ngày 16 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Thái Văn Bình A, sinh năm: 1999, tại Đồng Tháp;

Tên gọi khác: Không.

Nơi cư trú: Tổ 34, Khóm X, Phường Y, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 04/12; Nghề nghiệp: Không;

Con ông: Nguyễn Minh Tr; Con bà: Thái Thị Hồng H; Có 02 anh em, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; chưa có vợ, con.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 10/4/2019, Thái Văn Bình A bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tuyên phạt 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự số: 21/2019/HS-ST, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/01/2023.

Nhân thân:

Ngày 30/7/2014, 26/8/2014, 28/11/2014, Thái Văn Bình A bị Công an Phường 6, thành phố Cao Lãnh xử phạt vi phạm hành chính với hình thức cảnh cáo, về hành vi gây mất trật tự tại khu dân cư.

Ngày 20/3/2017, Thái Văn Bình A bị Công an Phường 6, thành phố Cao Lãnh xử phạt vi phạm hành chính với số tiền là 325.000 đồng, về hành vi đánh nhau với người khác.

Ngày 15/8/2017, Thái Văn Bình A bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tuyên phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” tại Bản án hình sự số 56/2017/HSST, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/6/2018 (Khi phạm tội dưới 18 tuổi, thực hiện tội phạm nghiêm trọng).

Tạm giữ ngày 26/10/2023, tạm giam ngày 04/11/2023. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam Công A tỉnh Đồng Tháp.

Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần.

Bị hại: 1.Trần Thị Kim Ph, sinh năm: 1990; (Vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ 34, khóm Z, phường Y, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp;

2. Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm: 1971; (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số 07A, ấp Th, xã M, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp;

Người làm chứng: 1. Lê Hồng H, sinh năm: 1986; (Vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ 2, ấp B, xã Tr, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp;

2. Trần Thị D, sinh năm: 1953; (Vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ 34, khóm Z, phường Y, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp;

Người hỗ trợ phiên tòa:

1. Đồng chí Nguyễn Quốc Thái - Cấp bậc Binh nhất - Tổ trưởng;

2. Đồng chí Lê Tuấn Ah - Cấp bậc Hạ sỹ - Thành viên;

3. Đồng chí Nguyễn Bảo Trường - Cấp bậc Binh nhất - Thành viên;

Là cán bộ, chiến sỹ Trại tạm giam Công A tỉnh Đồng Tháp.

4. Ông PhA Đăng Phiến – Chuyên viên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Những người hỗ trợ phiên tòa có mặt tại điểm cầu thành phần.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thái Văn Bình A có 01 tiền án về tội “Cướp giật tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 18/01/2023, chưa được xóa án tích nhưng A lại tiếp tục thực hiện hành vi 02 lần trộm cắp tài sản của người khác. Cụ thể như sau:

Vào khoảng 03 giờ 30 phút ngày 23/10/2023, sau khi hít keo con chó xong Thái Văn Bình A một mình đi bộ đến khu vực thuộc tổ 34, Khóm 4, Phường 6, thành phố Cao Lãnh để tìm tài sản lấy trộm. Khi A đi ngang qua nhà của chị Trần Thị Kim Ph thì phát hiện 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 66N2-8945 đAg đậu trước sân không khoá cổ xe, lợi dụng lúc này không có người trông coi tài sản nên A lén lút lấy trộm xe dắt đi ra đường nhựa cách nơi đậu xe khoảng 200mét thì bị bà Trần Kim D, sinh năm 1963 (là hàng xóm với chị Phượng) phát hiện và la lớn “Trộm, A ăn trộm xe” nên A hốt hoảng bỏ đi, bà D chạy vào nhà báo tin cho chị Ph biết thì lúc này A quay lại dẫn xe đẩy bộ khoảng 100mét, sau đó A bứt bỏ dây điện ổ khoá, khởi động xe điều khiển chạy đi tìm nơi tiêu thụ nhưng do xe không có giấy tờ nên A không bán được. Đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, khi A đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 66N2-8945 tại ngã tư Tân Việt Hoà thuộc Phường 6, thành phố Cao Lãnh thì chị Trần Thị Kim Ph phát hiện nên yêu cầu A đến Công an Phường 6 giải quyết vụ việc, tại đây A thừa nhận đã thực hành vi trộm cắp xe mô tô nói trên và tự nguyện giao nộp xe mô tô cho Công an Phường 6 để tạm giữ. Cùng ngày, Công A Phường 6 chuyển toàn bộ hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Lãnh để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Kết luận định giá tài sản số 555/KL-HĐĐGTS ngày 31/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cao Lãnh, kết luận: Xe mô tô biển kiểm soát 66N2-8945 nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu (đã qua sử dụng) trị giá là 3.000.000 đồng.

Đối với xe môtô biển kiểm soát 66N2-8945 do anh Lê Hồng H ngụ tổ 2, ấp 6B, xã Tr, huyện Th đứng tên chủ sở hữu, khoảng năm 2016 anh Hận đã bán xe cho chị Trần Thị Kim Ph với giá 4.500.000 đồng nhưng chưa sang tên chuyển quyền sở hữu cho chị Ph. Hiện tài sản đã trả lại chủ sở hữu xong, chị Ph nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Ngoài ra, trong quá trình Cơ quan Cảnh sát điều tra đang điều tra xác minh hành vi trộm cắp tài sản của Thái Văn Bình A thì khoảng 17 giờ ngày 24/10/2023, sau khi hít keo con chó xong A một mình đi bộ tiếp tục tìm tài sản lấy trộm. Cùng thời điểm này, chị Nguyễn Thị Hồng L, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu BESTSWA, biển kiểm soát 66P1-474.59 đến nhà ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1978, tại tổ 12, ấp Đ, xã A, thành phố Cao Lãnh để chơi. Khi đến nơi, chị L đậu xe cách nhà của anh L khoảng 40mét, do ổ khoá xe bị hư nên chị L không rút chìa khoá ra được mà vẫn để cắm trong ổ khoá xe. Lúc này, A đi bộ ngang qua thấy xe đâu không người trông coi nên liền đến lấy trộm xe khởi động máy điều khiển xe vừa trộm được đến khu vực thuộc xã Hưng Thạnh, huyện Tháp Mười để bán xe nhưng do xe không có giấy tờ A không bán được nên A điều khiển xe mô tô nói trên đến khu vực vườn xoài gần nhà A tại Khóm 4, Phường 6, thành phố Cao Lãnh để cất giấu.

Sau khi phát hiện tài sản của mình bị mất trộm chị Nguyễn Thị Hồng L đến Công an xã Hoà An trình báo vụ việc. Công an xã Hòa An phối hợp cùng Công an Phường 6, thành phố Cao Lãnh mời đối tượng nghi vấn là Thái Văn Bình A về trụ sở làm việc, tại đây A thừa nhận đã thực hành vi trộm cắp xe mô tô nói trên và tự nguyện giao nộp xe mô tô cho Công an xã Hòa An để tạm giữ; đồng thời, Công A xã Hòa An đã chuyển toàn bộ hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Lãnh để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Kết luận định giá tài sản số 554/KL-HĐĐGTS ngày 31/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Cao Lãnh, kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu BESTSWA, biển kiểm soát 66P1-474.59 màu xanh, đã qua sử dụng, trị giá là 3.500.000 đồng. Hiện tài sản đã trả lại chủ sở hữu xong, chị L nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Ngoài ra, bị hại chị Nguyễn Thị Hồng L còn bị mất 01 áo mưa, 01 nón bảo hiểm và túi vải đã cũ, không có giá trị nên chị L không yêu cầu định giá cũng như không yêu cầu gì đối với tài sản này.

Trong quá trình điều tra bị cáo Thái Văn Bình A thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung đã nêu trên; phù hợp với biên bản tiếp nhận nguồn tin về phạm tội; biên bản, sơ đồ, bản ảnh dựng lại hiện trường; kết luận định giá tài sản; lời khai người bị hại; lời khai những người làm chứng; vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án.

Bản cáo trạng số: 08/CT-VKS-TPCL, ngày 04 tháng 01 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Thái Văn Bình A về Tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân nhân thành phố Cao Lãnh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như cáo trạng đã nêu.

Đề nghị tuyên bố bị cáo Thái Văn Bình A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Thái Văn Bình A mức án từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

Về vật chứng: Đã giải quyết xong.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trAh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Thái Văn Bình A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Thái Văn Bình A, có 01 tiền án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Lợi dụng chủ sở hữu sơ hở trong quản lý tài sản ngày 23/10/2023, Thái Văn Bình A đã lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 66N2-8945 màu nâu của chị Trần Thị Kim Ph trị giá 3.000.000 đồng và ngày 24/10/2023 lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu BESTSWA, biển kiểm soát 66P1-474.59, màu xAh của chị Nguyễn Thị Hồng L, trị giá 3.500.000 đồng. Như vậy, 02 lần A lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác và từng lần chiếm đoạt tài sản đều trên 2.000.000 đồng.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, hành vi của bị cáo của Thái Văn Bình A đã phạm vào Tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

"1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: ...

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự công cộng, làm mất trật tự, an toàn xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đối với xe mô tô trộm của bà L sau khi cơ quan công an làm việc bị cáo đã tự nguyện khai nơi cất dấu và giao nộp nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo 02 lần chiếm đoạt tài sản của người khác, trị giá tài sản mỗi lần chiếm đoạt trên 2.000.000 đồng và thực hiện hành vi phạm tội khi chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên và tái phạm theo quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo là người đã thành niên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; đủ khả năng nhận thức được hành vi cũng như hậu quả do hành vi của bị cáo thực hiện; bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ; lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu tài sản bị cáo đã lấy trộm tài sản của các bị hại, tổng giá trị tài sản là 6.500.000đồng; Bản thân bị cáo có đủ sức khỏe để lao động nhưng lười lao động và muốn có tiền tiêu xài, thỏa mãn mục đích cá nhân mà thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác điều đó cho thấy sự xem thường pháp luật của bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội.

Xét thấy, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Về trách nhiệm dân sự và vật chứng: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có ai yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh về Điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt cho bị cáo là có căn cứ nên chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm được quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy bA thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Thái Văn Bình A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Thái Văn Bình A 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính ngày 26/10/2023.

Trách nhiệm dân sự và vật chứng: Không xem xét giải quyết.

Về án phí: Buộc bị cáo Thái Văn Bình A phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ