vanban.org

Bản án 10/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 24/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 01 năm 3 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giam, ngày 12/10/2023. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 nón bảo hiểm màu trắng có chữ VL màu đen. 01 áo sơ mi dài tay… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2024/HS-ST
Ngày: 24-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Thanh Quốc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Anh Minh

Ông Nguyễn Minh Mẫn

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thúy Kiều, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Đoàn Đắc Bắc - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 247/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh năm 1990; ĐKNKTT: ấp T, xã L, thành phố C, tỉnh C; Chỗ ở: ấp T, xã L, thành phố C, tỉnh C; nghề nghiệp: Thợ hồ; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Ngọt và con bà Phạm Thị Khỏi; vợ: Nguyễn Thanh Mộng, con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Tại bản án số 211 ngày 24/9/2012 của Tòa án thành phố Cà Mau, xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 22/02/2013 và đã nộp xong án phí vào ngày 16/11/2012. Tại bản án số 153 ngày 18/7/2014 của Tòa án thành phố Cà Mau phạt 02 năm tù về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 09/3/2016 và chấp hành xong án phí vào ngày 29/10/2014. Tại Quyết định số 115 ngày 16/6/2023 về việc áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng ma túy do có hành vi sử dụng ma túy bị test ngày 09/6/2023 và thời hạn quản lý là 01 năm, đến ngày 11/10/2023 dừng quản lý vì bị bắt giam hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định số 33 ngày 09/10/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau. Bị Nhà tạm giữ Công an thành phố Cà Mau ra Quyết định số 12 ngày 13/11/2023 với hình thức Cảnh cáo do vi phạm nội quy nơi giam giữ. Bị Nhà tạm giữ Công an thành phố Cà Mau ra Quyết định số 13 ngày 15/11/2023 với hình thức Cảnh cáo do vi phạm nội quy nơi giam giữ. Bị Nhà tạm giữ Công an thành phố Cà Mau ra Quyết định số 14 ngày 19/11/2023 với hình thức Cảnh cáo do vi phạm nội quy nơi giam giữ. Bị Nhà tạm giữ Công an thành phố Cà Mau ra Quyết định số 15 ngày 20/11/2023 với hình thức Cảnh cáo do vi phạm nội quy nơi giam giữ. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/10/2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cà Mau (Có mặt).

Bị hại: Anh Lâm Ngọc D, sinh năm: 1992. Địa chỉ cư trú: ấp Cây Trâm A, xã Định Bình, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau, (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Như M, sinh năm: 1964. Địa chỉ cư trú: Số 72, Lộ Mới, khóm 2, phường 8, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07giờ 30 phút ngày 06/6/2023 anh Lâm Ngọc D là nhân viên văn phòng của Công ty Cổ phần Camimex (gọi tắt là Công ty) đi xe mô tô biển số 69K1-176.51 đậu tại nhà xe của Công ty thuộc đường Cao Thắng, khóm 7, phường 8, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Ông D dựng xe của mình vào bên trong nhà xe xong và ông D vào Văn phòng Công ty làm việc.

Khoảng 13 giờ, ngày 06/6/2023, bị cáo Nguyễn Văn H đi xe hon đa khách từ nhà tại ấp Thạnh Điền, xã Lý Văn Lâm, thành phố Cà Mau đến Công ty Cổ phần Camimex thuộc đường Cao Thắng, khóm 7, phường 8, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Khi đến Công ty, bị cáo xuống xe, đi bộ về hướng nhà xe của Công ty. Bị cáo phát hiện 01 xe mô tô hiệu hiệu Honda Wave biển kiểm soát 69K1-176.51 của anh D, là nhân viên văn phòng của Công ty đang đậu bên trong nhà xe. Bị cáo quan sát, không thấy ai trông coi nên lấy trong túi quần ra 01 chìa khóa đem theo sẵn trong người mở khóa xe, sau đó đề máy chạy ra khỏi hiện trường và chạy đến bến xe Cà Mau để tìm người bán.

Khi bị cáo đến bến xe Cà Mau thì gặp một người chạy xe hon đa khách (không biết tên địa chỉ) và hỏi người này mua xe không có giấy tờ không, thì người này không mua mà nói để dẫn bị cáo đến cầu Chủ Chí, ở xã Phong Thạnh Tây B, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu có người mua. Người này dẫn bị cáo chạy đến tuyến đường Quản lộ Phụng Hiệp được khoảng 20 km thì dừng xe (không rõ địa điểm) bán cho 01 người thanh niên khoảng 30 tuổi, (không biết tên địa chỉ) được 3.000.000 đồng.

Đến khoảng 17 giờ 40 phút, ngày 06/6/2023, hết giờ làm, anh D đi ra lấy xe thì phát hiện mất xe. Anh D và ông Tống Như M (Bảo vệ của Công ty) kiểm tra camera xác định có người lấy trộm nên trình báo Công an.

Khoảng 13 giờ, ngày 09/6/2023, Công an mời Hiệp làm việc thì bị cáo thừa nhận trộm xe trên, đồng thời thu giữ của bị cáo trang phục khi bị cáo mặc đi trộm tài sản gồm: 01 nón bảo hiểm màu trắng có chữ VL màu đen. 01 áo sơ mi dài tay màu trắng phía trước ngực có logo hình mặt người. 01 quần Jeans dài màu xanh, phía sau lưng quần có chữ DENIM. 01 đôi dép lào màu trắng.

Theo Bản kết luận định giá số 73 ngày 15/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Cà Mau: Xe mô tô nhãn hiệu Honda wave màu xanh, đen, bạc biển số 69K1-176.51, thời điểm định giá ngày 06/6/2023 có trị giá 4.914.899 đồng.

Sau khi mất trộm xe, do ông M là bảo vệ của công ty nên theo quy định của công ty thì ông M có trách nhiệm bồi thường giá trị xe cho anh D, ông M đã bồi thường xong.

Đến ngày 13/6/2023, bị cáo và gia đình bị cáo đã tự nguyện giao nộp 4.915.000 đồng, do trước đó ông M đã bồi thường cho anh D nên ông M nhận lại số tiền trên từ bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Không ai yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự. Về trách nhiệm hình sự: Bị hại đề nghị xử lý bị cáo theo quy định pháp luật.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội.

Bản cáo trạng số: 07/CT-VKS ngày 26/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Không đề cập xử lý.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 nón bảo hiểm màu trắng có chữ VL màu đen. 01 áo sơ mi dài tay màu trắng phía trước ngực có logo hình mặt người. 01 quần Jeans dài màu xanh, phía sau lưng quần có chữ DENIM. 01 đôi dép lào màu trắng.

Đối với xe mô tô 69K1-176.51 của anh Lâm Ngọc D, bị cáo đã bán cho người không rõ họ tên, địa chỉ nên không điều tra xác minh và thu giữ được.

Lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện điều hợp pháp.

Xét việc vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm nhưng vắng mặt không lý do. Việc vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ là phù hợp.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, từ đó đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 13 giờ 55 phút, ngày 06 tháng 6 năm 2023, bị cáo lợi dụng sự sơ hở khi ông Tống Như M, bảo vệ không có mặt tại nhà để xe của Công ty Cổ phần Camimex thuộc đường Cao Thắng, khóm 7, phường 8, thành phố Cà Mau, đã lén lút trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, đen, bạc biển số 69K1-176.51 của anh Lâm Ngọc D với tổng giá trị 4.914.899 đồng.

Xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, cụ thể: Năm 2012, bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Năm 2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngoài ra, bị cáo từng bị áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng ma túy do có hành vi sử dụng ma túy. Trong quá trình tạm giam nhiều lần vi phạm nội quy cơ sở giam giữ dẫn đến bị kỷ luật với hình thức cảnh cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại. Do đó, Hội đồng xét xử xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về mức lượng hình: Xét thấy thời gian qua các tội phạm về xâm phạm sở hữu nói chung, tội phạm “Trộm cắp tài sản” nói riêng diễn ra rất nhiều, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Bị cáo từng bị Tòa án xử phạt về hành vi trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không biết sửa chữa lỗi lầm, lại tiếp tục phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần có hình phạt tương xứng với nhân thân, với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, nhằm răn đe, giáo dục bị cáo ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung cho toàn xã hội, để bị cáo có thời gian suy nghĩ về hành vi vi phạm pháp luật mà mình đã thực hiện, qua đó cải sửa bản thân trở thành công dân sống có ích cho xã hội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi lượng hình đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 nón bảo hiểm màu trắng có chữ VL màu đen. 01 áo sơ mi dài tay màu trắng phía trước ngực có logo hình mặt người. 01 quần Jeans dài màu xanh, phía sau lưng quần có chữ DENIM. 01 đôi dép lào màu trắng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 01 năm 3 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giam, ngày 12/10/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 nón bảo hiểm màu trắng có chữ VL màu đen. 01 áo sơ mi dài tay màu trắng phía trước ngực có logo hình mặt người. 01 quần Jeans dài màu xanh, phía sau lưng quần có chữ DENIM. 01 đôi dép lào màu trắng.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và các Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (chưa nộp).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ