vanban.org

Bản án 10/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 19/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phùng Kim L phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”

Về hình phạt: Tổng hợp hình phạt của Bản án này với hình phạt 24 (Hai mươi tư) tháng tù của Bản án số: 06/2024/HS-ST ngày 08 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Buộc bị cáo Phùng Kim L chấp hành hình phạt chung của hai Bản án là 40 (Bốn mươi) tháng tù. Thời hạn tù … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng Kim L - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phùng Kim L phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2024/HS-ST
Ngày 19/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lường Thị Thu Hòa.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Ngọ và bà Lành Thị Hải

- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Thị Quỳnh - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST - HS ngày 25 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

PHÙNG KIM L; tên gọi khác: Không có; sinh ngày 06 tháng 4 năm 1996 tại Bắc Kạn; Nơi đăng ký HKTT: Thôn T, xã H, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 01/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố: Không xác định; Mẹ: Phùng Thị G; Vợ, con: không; Tiền án: 01 - Tại Bản án số 196/2022/HSST ngày 20/9/2022 của Toà án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, Phùng Kim L bị xử phạt 28 (Hai mươi tám) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Đến ngày 26/4/2024, Phùng Kim L chấp hành xong hình phạt tù. Tính đến ngày 02/7/2024 chưa được xoá án tích.

Tiền sự: 03:

- Tại Quyết định số 02/QĐ-XPHC ngày 13/5/2024 bị Công an xã H, tỉnh Bắc Kạn xử phạt hành chính với hình thức Cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.

- Tại Quyết định số 03/QĐ-XPHC ngày 27/5/2024 bị Công an xã H, tỉnh Bắc Kạn xử phạt hành chính với hình thức phạt tiền về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.

- Tại Quyết định số 81/QĐ-XPTT ngày 13/6/2024 bị Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Bắc Kạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn 03 tháng.

Đối với cả 3 quyết định trên, tính đến ngày 02/7/2024 đều chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

Nhân thân:

- Tại Quyết định số 80/QĐ-UBND ngày 19/5/2021 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Bắc Kạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn 03 tháng.

- Tại Quyết định số 164/QĐ-XPVPHC ngày 29/6/2022 Ủy ban nhân dân phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản với hình thức phạt tiền.

Đối với hai quyết định trên, tính đến ngày 02/7/2024, đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

- Ngoài ra, tại Bản án số 06/2024/HS-ST ngày 08/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, Phùng Kim L bị xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đang bị bắt, tạm giam trong vụ án khác tại Trại tạm giam Công an tỉnh B từ ngày 09/7/2024 cho đến nay. Có mặt.

- Bị hại:

1. Ông Đinh Lâm L1, sinh năm 1980, trú tại thôn R, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Bà Lường Thị T, sinh năm 1981, trú tại thôn R, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn.

Người đại diện hợp pháp của bà T: Ông Đinh Lâm L1, sinh năm 1980, trú tại thôn R, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Triệu Văn D, sinh năm 1991, trú tại: Thôn N, xã C, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 02/7/2024 tại nhà của anh Đinh Lâm L1, sinh năm 1980, trú tại thôn R, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, Phùng Kim L, sinh năm 1996, trú tại thôn T, xã H, huyện C, tỉnh Bắc Kạn đã hỏi mượn xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, màu đen bạc, BKS 20N3-6700 của anh L1 để đi mua thuốc tây về uống do đang bị sốt và ho. Sau khi mượn xe, L một mình điều khiển xe đi từ nhà anh L1 đến cầu S thuộc xã N, huyện C, do không đủ tiền mua thuốc nên L tiếp tục điều khiển xe mô tô đi đến xã C, huyện C với mục đích để tìm người quen mượn tiền. Do không gặp được ai nên L nảy sinh ý định bán xe của anh L1 để lấy tiền tiêu xài. Khi đi đến hiệu sửa xe máy của anh Triệu Văn D, sinh năm 1991, trú tại thôn N, xã C, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, tại đây L bán chiếc xe mô tô BKS 20N3-6700 cho anh D với số tiền 3.500.000đ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng). Sau khi bán xe, L đi tìm mua ma túy về sử dụng, L gặp và mua ma túy với một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ ở khu vực chợ C hết 250.000 đồng, sau đó bắt xe lên thành phố B chơi và sử dụng hết số tiền còn lại. Đến ngày 07/7/2024, Phùng Kim L thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh B và bị Công an phường H, thành phố B bắt giữ. Quá trình điều tra về vụ án trộm cắp tại thành phố B, ngày 07/7/2024 Phùng Kim L đã khai ra hành vi mượn và chiếm đoạt chiếc xe máy của anh L1, chị T. Ngày 08/7/2024, anh Đinh Lâm L1 đã làm đơn trình báo đến Công an xã N, huyện C đề nghị giải quyết.

Ngày 10/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tạm giữ chiếc xe mô tô BKS 20N3-6700 tại cửa hàng của anh Triệu Văn D.

Tại Kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTSTTHS ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu sơn đen - bạc, biển kiểm soát 20N3-6700 (đã qua sử dụng) tại thời điểm 02/7/2024 trị giá 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng).

Tại cơ quan điều tra, Phùng Kim L khai nhận toàn bộ hành vi của mình về thời gian, địa điểm, tài sản chiếm đoạt của anh L1 chị T. L khai sau khi mượn xe của anh L1, do không có tiền tiêu sài nên đã nảy sinh ý định bán chiếc xe trên. Quá trình mua bán anh D có hỏi về nguồn gốc của chiếc xe thì L bảo là xe của mình mua lại nhưng lúc mua không có giấy tờ. L bán xe cho anh D được số tiền 3.500.000 đồng gồm các mệnh giá 500.000 đồng, 200.000 đồng và 100.000 đồng. Số tiền này L đã sử dụng để tiêu sài cá nhân hết. Lời khai của L là phù hợp với lời khai của bị hại anh Đinh Lâm L1, chị Lường Thị T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Triệu Văn D và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô BKS 20N3-6700 là tài sản chung của vợ chồng anh Đinh Lâm L1 và chị Lường Thị Tuyết . Ngày 16/7/2024, anh L1 và chị T có biên bản thống nhất ủy quyền cho anh L1 là đại diện tham gia tố tụng trong vụ án.

Vật chứng của vụ án:

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu sơn: đen - bạc, biển kiểm soát: 20N3-6700, số máy: C12E-2570347, số khung: AY070331 (đã qua sử dụng); 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 001626 BKS 20N3-6700 do Công an tỉnh T cấp ngày 18/5/2010. Ngày 22/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Bắc Kạn đã tiến hành trả lại các đồ vật, tài sản trên cho anh Đinh Lâm L1.

Tại Cáo trạng số 45/CT-VKS-CM ngày 09 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn truy tố Phùng Kim L về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt, anh Đinh Lâm L1 và chị Lường Thị T không yêu cầu Phùng Kim L phải bồi thường. Anh Triệu Văn D không yêu cầu Phùng Kim L phải trả lại số tiền đã mua xe và không yêu cầu bị cáo bồi thường. Về trách nhiệm hình sự: Bị hại đề nghị Hội đồng xét xử, xét xử bị cáo theo quy định.

* Tại phiên tòa:

- Bị cáo Phùng Kim L thành khẩn khai nhận và thể hiện thái độ ăn năn hối cải về hành vi vi phạm của mình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phùng Kim L phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

+ Về hình phạt:

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50; Điều 56 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phùng Kim L từ 16 tháng tù đến 20 tháng tù.

Tổng hợp hình phạt của Bản án này với hình phạt 24 (Hai mươi tư) tháng tù của Bản án số: 06/2024/HS-ST ngày 08 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Buộc bị cáo Phùng Kim L chấp hành hình phạt chung của hai Bản án. Thời hạn tù tính từ ngày 09/7/2024.

+ Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo do bị cáo thuộc diện hộ nghèo, là lao động tự do và không có thu nhập ổn định, không có tài sản.

+ Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

+ Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu sơn: đen - bạc, biển kiểm soát: 20N3-6700, số máy: C12E-2570347, số khung: AY070331 (đã qua sử dụng); 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 001626 BKS 20N3-6700 do Công an tỉnh T cấp ngày 18/5/2010. Ngày 22/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Bắc Kạn đã tiến hành trả lại các đồ vật, tài sản trên cho anh Đinh Lâm L1. Xét thấy là đúng quy định cho nên đề nghị Hội đồng xét xử không tiếp tục xem xét.

- Bị cáo Phùng Kim L nhất trí với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không bào chữa, không tranh luận. Tại lời nói sau cùng, Bị cáo thừa nhận hành vi vi phạm và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử; chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập, do bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cung cấp đều đảm bảo theo quy định của pháp luật.

Về tội danh:

Tại phiên tòa, Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi vi phạm, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Từ đó có đủ cơ sở xác định:

Hồi 09 giờ 00 phút ngày 02/7/2024, tại nhà của vợ chồng anh Đinh Lâm L1 thuộc thôn R, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, Phùng Kim L đã có hành vi mượn 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu sơn đen bạc, BKS 20N3-6700 là tài sản của vợ chồng anh L1, chị T để sử dụng. Sau khi mượn được xe, L nảy sinh ý định bán chiếc xe để lấy tiền tiêu sài nên L đã bán chiếc xe cho anh D được số tiền 3.500.000 đồng. Số tiền này L đã chi tiêu cá nhân hết. Tại thời điểm chiếm đoạt, chiếc xe mô tô trên trị giá 6.000.000 đ (Sáu triệu đồng)

Hành vi vi phạm của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.

Như vậy, hành vi của Phùng Kim L đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định điểm b khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.

Điều luật có nội dung:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng .... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản;

…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Từ những căn cứ trên, xét thấy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn truy tố Phùng Kim L về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tuy nhiên xét thấy, việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn truy tố bị cáo Phùng Kim L để xét xử theo điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự cần được đánh giá. Việc Phùng Kim L mượn xe của anh L1, chị T sau đó không trả mà bán xe cho người khác để lấy tiền tiêu xài cá nhân là hành vi bất hợp pháp - định đoạt chiếc xe không thuộc quyền sở hữu của bị cáo. Đây là dạng hành vi sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự. Do đó, cần xét xử bị cáo theo điểm b khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự mới đảm bảo đúng tính chất hành vi phạm tội của bị cáo và phù hợp với thực tiễn quan điểm áp dụng pháp luật tại địa phương. Giới hạn xét xử theo quy định của pháp luật được đảm bảo.

Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Tội phạm của Phùng Kim L đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn, tuy nhiên đã làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự và an toàn xã hội tại địa phương.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có có nhân thân xấu. Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý (Bị cáo có 01 tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, tính đến ngày 02/7/2024 (ngày thực hiện hành vi phạm tội lần này) chưa được xoá án tích). Vì vậy, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm. Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Phùng Kim L đã tự nguyện khai báo với cơ quan cảnh sát điều tra về hành vi phạm tội của mình trước khi tội phạm và người phạm tội bị phát hiện. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và thể hiện thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là người phạm tội tự thú và người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt:

Trên cơ sở quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về hình phạt chính: Xét thấy cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định để đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 175 Bộ luật Hình sự quy định về hình phạt bổ sung đối với người phạm tội. Tuy nhiên, bị cáo thuộc diện hộ nghèo, là lao động tự do và không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại đã nhận lại được tài sản, không có thêm yêu cầu gì đối với bị cáo. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, không có thêm yêu cầu gì đối với bị cáo. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng:

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu sơn: đen - bạc, biển kiểm soát: 20N3-6700, số máy: C12E-2570347, số khung: AY070331 (đã qua sử dụng); 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 001626 BKS 20N3-6700 do Công an tỉnh T cấp ngày 18/5/2010. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Bắc Kạn đã tiến hành trả lại các đồ vật, tài sản trên cho anh Đinh Lâm L1. Xét thấy là đúng quy định cho nên Hội đồng xét xử không tiếp tục xem xét .

Về các vấn đề khác:

Trong vụ án này có anh Triệu Văn D là người đã mua lại chiếc xe mô tô BKS 20N3-6700 nhưng không có căn cứ để xác định anh D biết chiếc xe mô tô trên là do Phùng Kim L chiếm đoạt của anh L1. Do đó, việc không xem xét xử lý đối với anh Triệu Văn D là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.

Đối với người đã bán ma tuý cho Phùng Kim L tại khu vực chợ xã C, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, quá trình điều tra, không xác định được đối tượng nên không có căn cứ xem xét xử lý là có cơ sở.

Về quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân: Xét thấy quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, cần được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo là cá nhân thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí, xét thấy cần miễn án phí sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phùng Kim L phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”

2. Về hình phạt:

- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 175; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50; Điều 56 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phùng Kim L 16 (Mười sáu) tháng tù.

Tổng hợp hình phạt của Bản án này với hình phạt 24 (Hai mươi tư) tháng tù của Bản án số: 06/2024/HS-ST ngày 08 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Buộc bị cáo Phùng Kim L chấp hành hình phạt chung của hai Bản án là 40 (Bốn mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/7/2024.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phùng Kim L.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Miễn án phí sơ thẩm cho bị cáo Phùng Kim L.

3. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ