vanban.org

Bản án 10/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre Tuyên án 28/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm “Tội trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 01 (một) năm tù. Tổng hợp hình phạt 01 (một) năm tù của Bản án hình sự phúc thẩm số 58/2023/HS-PT ngày 24/8/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre buộc bị cáo Nguyễn Văn M chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn M - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm “Tội trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỎ CÀY NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 10/2024/HS-ST
Ngày 28-3-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Kim Ngân

Các hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Phạm Văn Nam

2/ Ông Nguyễn Chí Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Sương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Lê Kim Chăm – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn M, sinh năm 1969 tại tỉnh Bến Tre; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Ấp H, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: Lớp 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn L (chết), con bà Lê Thị T1 (chết); Vợ Trần Thị Kim P, sinh năm 1974; Bị cáo có ba người con, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2001; Tiền án: Bị cáo có một tiền án về “Tội cướp giật tài sản” theo Bản án hình sự phúc thẩm số 31/2021/HSPT ngày 08/4/2021 của Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre, hình phạt 01 năm 03 tháng tù, chấp hành xong ngày 05/5/2022; Tiền sự: Không.

Bị cáo đang chấp hành hình phạt 01 (một) năm tù về “Tội trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự phúc thẩm số 58/2023/HS-PT ngày 24/8/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre và Quyết định thi hành án phạt tù số 46/2023/QĐ-CA ngày 06/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

- Bị hại: Ông Lê Văn T2, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Ấp B, xã A, huyện M, tỉnh Bến Tre (Xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 20 phút, ngày 02 tháng 8 năm 2023, Nguyễn Văn M điều khiển xe mô tô biển số 68S1-149.66 (bị cáo mua của người khác) đi tìm tài sản lấy trộm, khi đến ấp Bình Thới, xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre, thì phát hiện thấy trong sân nhà anh Lê Văn T, sinh năm 1982 (cách tuyến tránh Quốc lộ 60 khoảng 10m) có nhốt một con gà trống nòi trong bội sắt không người trông coi, M liền vào bắt trộm con gà và dùng băng keo đen quấn hai chân gà dính lại với nhau rồi bỏ vào cốp xe, xong điều khiển xe định tẩu thoát thì bị anh T phát hiện truy hô và cùng người dân bắt giữ trình báo Công an.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe mô tô biển số 68S1-149.66; 01 con gà trống nòi cân nặng 2,5kg, lông màu trắng, hai chân màu vàng.

Quá trình làm việc, Nguyễn Văn M giao nộp: 01 áo thun, tay ngắn, màu xanh, trên phần cổ áo có chữ AMERICAN EAGLE OUTFITTERS, Size (kích cỡ) XXL; 01 quần sọt kaki, màu cam nhãn hiệu Leves, size (kích cỡ): 36 (tất cả đã qua sử dụng).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 23/KL-HĐĐGTS ngày 21/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện Mỏ Cày Nam kết luận: 01 con gà trống nòi, lông màu trắng, hai chân màu vàng, khối lượng 2,5kg, giá 90.000 đồng/kg, thành tiền là 225.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 07/CT-VKSMCN ngày 23 tháng 01 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về “Tội trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Bị hại ông Lê Văn T vắng mặt tại phiên toà nhưng có lời trình bày trong giai đoạn điều tra và đơn xin vắng mặt cho rằng ông đã nhận lại tài sản là con gà và không yêu bị cáo bồi thường gì thêm. Về trách nhiệm hình sự đối với bị cáo ông yêu cầu xử lý theo quy định pháp luật.

Tại phiên toà:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre phát biểu quan điểm về vụ án cho rằng: Việc truy tố hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên lưu toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm “Tội trộm cắp tài sản”; Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo M từ 01 (một) năm đến 02 (hai) năm tù. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt 01 (một) năm tù của Bản án hình sự phúc thẩm số 58/2023/HS-PT ngày 24/8/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 02 (hai) năm tù. Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt chung. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung do bị cáo không có thu nhập ổn định. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận bị hại T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị ghi nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mỏ Cày Nam đã trả lại cho bị hại một con gà có đặc điểm như biên bản tạm gữ, các tài sản khác tịch thu tiêu huỷ. Đối với xe môt tô biển số 68S1-149.66 đề nghị giao cho Công an huyện Mỏ Cày Nam xác minh làm rõ xử lý sau.

Bị cáo Nguyễn Văn M đồng ý với nội dung Cáo trạng và thừa nhận bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Bị cáo nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mỏ Cày Nam, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, đương sự không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Bị hại ông Lê Văn T vắng mặt tại phiên toà nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt của ông T không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt ông T.

Về hành vi của bị cáo Nguyễn Văn M bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam truy tố, Hội đồng xét xử nhận định: Bị cáo M là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức rõ việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, nhằm mục đích tiêu xài cho bản thân. Cụ thể, vào khoảng 08 giờ 20 phút, ngày 02 tháng 8 năm 2023, Nguyễn Văn M, đang có 01 tiền án về “Tội cướp giật tài sản”, đã lén lút chiếm đoạt của anh Lê Văn T ở ấp Bình Thới, xã An Thạnh, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre, 01 con gà trống nòi trị giá 225.000 đồng. Hành vi trên của bị cáo M là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của anh T, đã đủ yếu tố cấu thành “Tội trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam truy tố hành vi phạm tội của bị cáo M là phù hợp, đúng quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định: Bản thân bị cáo M có đủ sức khoẻ, đủ khả năng lao động nhưng không tìm công việc hợp pháp để làm nhằm tạo ra thu nhập, tài sản chính đáng cho bản thân mà lại có hành vi lén lút chiếm đoạt của người khác để phục vụ cho mình, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý lo lắng, hoài nghi trong quần chúng nhân dân. Mặt khác, bị cáo đang có một tiền án về “Tội cướp giật tài sản”, vừa mới chấp hành xong hình phạt tù về địa phương nhưng trong thời gian ngắn lại tiếp tục phạm tội, tiền sử nhân thân có nhiều lần vi phạm pháp luật, thậm chí đang trong thời gian chờ Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm về “Tội trộm cắp tài sản” nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Điều này cho thấy thái độ xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo chưa ăn năn hối cải nên cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ dài, thể hiện sự nghiêm M của pháp luật, nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt và góp phần phòng ngừa tội phạm trong xã hội.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo M phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo M có các tình tiết giảm nhẹ “phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, người phạm tội thành khẩn khai báo” được quy định tại các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, được xem xét trong lượng hình, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, cho bị cáo có cơ hội sớm trở về cuộc sống bình thường, có ích cho gia đình và xã hội.

Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Xét về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Văn T đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét.

Xét về xử lý vật chứng:

Trong giai đoạn điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mỏ Cày Nam đã trả lại cho bị hại Lê Văn T một con gà có đặc điểm như biên bản tạm giữ. Xét việc trao trả tài sản cho chủ sở hữu là phù hợp nên cần ghi nhận.

Đối với các vật chứng khác gồm: 01 áo thun, tay ngắn, màu xanh, trên phần cổ áo có chữ AMERICAN EAGLE OUTFITTERS, Size (kích cỡ) XXL; 01 quần sọt kaki, màu cam nhãn hiệu Leves, size (kích cỡ): 36 (tất cả đã qua sử dụng) là tài sản của bị cáo M, không phải là công cụ, phương tiện phạm tội, Tuy nhiên, bị cáo không có yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với xe mô tô biển số biển số 68S1-149.66 chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên cần thiết giao cho Công an huyện Mỏ Cày Nam xác minh làm rõ xử lý sau.

Xét về án phí: Bị cáo M có nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 56 của Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm “Tội trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 01 (một) năm tù.

Tổng hợp hình phạt 01 (một) năm tù của Bản án hình sự phúc thẩm số 58/2023/HS-PT ngày 24/8/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre buộc bị cáo Nguyễn Văn M chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/9/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật Hình sự, ghi nhận bị hại Lê Văn T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Ghi nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mỏ Cày Nam đã trả lại cho bị hại Lê Văn T một con gà có đặc điểm như biên bản thu giữ.

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 áo thun, tay ngắn, màu xanh, trên phần cổ áo có chữ AMERICAN EAGLE OUTFITTERS, Size (kích cỡ) XXL; 01 quần sọt kaki, màu cam nhãn hiệu Leves, size (kích cỡ): 36.

- Giao cho Công an huyện Mỏ Cày Nam 01 xe mô tô biển số 68S1-149.66 xác M làm rõ chủ sở hữu và xử lý sau.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Nguyễn Văn M có nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ