vanban.org

Bản án 10/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái Tuyên án 22/05/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Văn C phạm tội "Cố ý gây thương tích".

Về hình phạt: 1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Văn C - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Văn C phạm tội "Cố ý gây thương tích".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỤC YÊN
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2024/HS-ST
Ngày 22-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LY, TỈNH YB

Th phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ pH toà: Ông Nguyễn Đỗ Quỳnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1- Ông Nguyễn Ngọc Mai;

2- Bà Lê Thị Hương.

Thư ký phiên Toà: Ông Nguyễn Ngọc Linh, Thư ký Toà án nhân dân huyện LY, tỉnh YB.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện LY, tỉnh YB tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện LY, tỉnh YB, xét xử sơ thẩm công khai rút kinh nghiệm vụ án hình sự thụ lý số: 15/2024/HSST ngày 24 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Triệu Văn C

Tên gọi khác: Không

Sinh ngày 11 tháng 6 năm 1997, tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.

Nơi cư trú: thôn Ro, xã Phan Thanh, huyện LY, tỉnh YB.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Triệu Văn M (đã chết) con bà: Phạm Thị Ng, sinh năm 1965; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không, hiện đang tại ngoại tại xã Phan Thanh, huyện LY, tỉnh YB; “có mặt”.

Người bào chữa cho bị cáo: ông Đinh Gia H – Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Yên Bái; “có mặt”.

Người bị hại: Anh Lý Văn V, sinh năm 1998; địa chỉ thôn X1, xã TL, huyện LY, tỉnh YB; “vắng mặt”.

Người có quyền lợi liên quan: Anh Nguyễn Đình Nh, sinh năm 1990; địa chỉ thôn Hạ Giang, xã Tân Lập, huyện LY, tỉnh YB; “vắng mặt”.

Người làm chứng:

- Anh Tăng Hoàng Th, sinh năm 1999; địa chỉ thôn H, xã YT, huyện LY, tỉnh YB; “vắng mặt”.

- Anh Trần Văn Tr, sinh năm 1995; địa chỉ thôn X1, xã TL, huyện LY, tỉnh YB; “vắng mặt”.

- Anh Chu Văn H, sinh năm 1999; địa chỉ thôn X1, xã TL, huyện LY, tỉnh YB; “vắng mặt”.

- Anh Chu Văn Th, sinh năm 2001; địa chỉ thôn X1, xã TL, huyện LY, tỉnh YB; “vắng mặt”.

- Chị Phạm Kim Ng, sinh năm 2004; địa chỉ thôn Đ, xã Ah, huyện VY, tỉnh YB; “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 29 tháng 8 năm 2023, Lý Văn V cùng bạn tên là Son (Vquen biết qua mạng xã hội, không xác định được họ và tên, địa chỉ chính xác) sau khi ăn cơm tại nhà của Vcùng rủ nhau đi đến nhà bạn tại thôn U, xã TL, huyện LY chơi, Son là người điều khiển xe mô tô, Vngồi phía sau. Khi đi đến khu vực cầu thuộc thôn Xiêng 1, xã Tân Lập, huyện Lục Yên thì gặp Triệu Văn Cđiều khiển xe mô tô BKS 21V4 – 1693 đi một mình, Tăng Hoàng Th điều khiển xe mô tô BKS 21C1 – 034.39 chở sau là Phạm Kim Ngđi ngược chiều. Trong quá trình tham gia giao thông xe mô tô do Son điều khiển sắp va chạm vào xe mô tô do Cđiều khiển đi ngược chiều, hai bên xuống xe mô tô, giữa Vvà C, Th xảy ra to tiếng cãi vã, Son điều khiển xe mô tô bỏ đi trước, sau đó Vlao vào dùng tay phải tát 02 cái về phía Cnhưng Cdùng tay đỡ được, Cdùng tay phải đấm 01 phát vào vai Vnhưng không gây thương tích gì, Th dùng tay phải đấm 02 phát về phía của Vnhưng không trúng, sau khi bị đánh Vbỏ chạy về nhà mình. Sau đó Ccùng Th và Ngtiếp tục điều khiển xe mô tô đến quán bia NH DỆT tại tại thôn Hạ Giang, xã Tân Lập do anh Nguyễn Đình Nh là chủ quán uống nước. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, Vcùng bạn là Trần Văn Tr, Chu Văn H, Chu Văn Th cùng trú tại thôn Xiêng 1, xã Tân Lập, huyện Lục Yên đến quán NH DỆT để uống nước, khi vào quán Vgặp Cvà Th, Vvà Ctiếp tục xảy ra xô sát, Vdùng tay phải tát vào mặt Cnhưng Cdùng tay đỡ được, Cdùng tay phải nhặt cốc thủy tinh ở trên mặt bàn uống nước ném trúng trán của V. Thấy xảy ra xô sát, đánh nhau Th chạy ra bàn bán vịt quay của nhà anh Nh nhặt 01 con dao ở bàn cầm ở tay với mục đích để phòng thân nhưng không tham gia đánh nhau, không gây thương tích cho ai, thấy đánh nhau anh Nh ra can ngăn lấy dao ở trong tay Th vứt đi. Lý Văn Vbị thương chảy máu ở vùng mặt dược đưa đến Trung tâm y tế huyện Lục Yên để điều trị.

Ngày 18 tháng 9 năm 2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện LY, tỉnh YB đã trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Yên Bái giám định tỷ lệ phần trăm tổn hại sức khỏe của Lý Văn V.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống của Lý Văn Vsố 183/KLTTCT/TTPY ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Yên Bái kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lý Văn V tại thời điểm giám định là: 14% (mười bốn phần trăm). Cơ chế hình thành thương tích của Lý Văn Vlà do vật cứng có cạnh tác động một lực mạnh theo hướng trực diện gây ra.

Ngày 24 tháng 10 năm 2023 Lý Văn Vđề nghị giám định lại thương tích của mình.

Ngày 25 tháng 10 năm 2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện LY, tỉnh YB trưng cầu Viện khoa học Hình sự Bộ Công an giám định lại tỷ lệ phần trăm tổn hại sức khỏe của Lý Văn V.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống của Lý Văn Vsố 7874/KL-KTHS ngày 03/11/2023 của Viện khoa học Hình sự Bộ Công an kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lý Văn Vtại thời điểm giám định là: 14% (mười bốn phần trăm). Cơ chế hình thành thương tích của Lý Văn Vlà do vật tày, có cạnh gây ra.

Cáo trạng số: 13/CT-VKS - LY ngày 23 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên truy tố bị cáo Triệu Văn Cvề tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sau lời luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên đề nghị Hội đồng xét xử.

Về tội danh: Bị cáo Triệu Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Về hình phạt đối với Triệu Văn Ccó mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 năm tù, nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.

Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

Về vật chứng của vụ án và tài sản có liên quan:

- Cần tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao bằng kim loại, chuôi dao bằng gỗ kích thước dài 25cm, bản rộng nhất 07cm dao cũ đã qua sử dụng; 01 (một) mảnh vỡ cốc thủy tinh, không rõ hình dạng, kích thước.

Về tránh nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường thiệt hại 15.000.000 đồng (mười năm triệu đồng) và không có yêu cầu bồi thường khoản tiền nào khác, nên vấn đề bồi thường không đặt ra, đề nghị Hội đồng xét không xét.

Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm, do là dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã thực hiện hành vi gây thương tích đối với bị hại Lý Văn V. Lời sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm một phần hình phạt. Về trách nhiệm dân sự bị cáo đã bồi thường số tiền 15.000.000 đồng đối với người bị hại.

Quá trình điều tra người bị hại Lý Văn Vđưa ra ý kiến đã nhận đủ số tiền bồi thường thiệt hại 15.000.000 đồng và không có yêu cầu bồi thường thêm số tiền nào khác, Về hình phạt yêu cầu hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Lời khai của những người làm chứng trong quá trình điều tra, đều thể hiện việc bị cáo Cgây thương tích cho bị hại Lý Văn V là đúng thực tế.

Người bào chữa cho bị cáo Cđền nghị Hội đồng xét xử xem xét tuyên bố bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích, về hình phạt đền nghị Hội đồng xét xử Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Về hình phạt đối với Triệu Văn C có mức án từ 02 năm tù, nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật. Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Cdo bị cáo là dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế, xã hội đặc biệt kho khăn.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Đình Nh không yêu cầu bị cáo bồi thường 01 cốc thủy tinh do bị cáo Csử dụng là hung khí gây thương tích cho bị hại Vcốc thủy tinh đã vỡ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố. Cơ quan điều tra Công an huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện LY, tỉnh YB, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo không có khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi chứng cứ xác định có tội và điều luật áp dụng: Ngày 29 tháng 8 năm 2023 do mâu thuẫn cá nhân khi tham gia giao thông từ trước đó với Lý Văn V, trong lúc ngồi uống nước với bạn tại quán bia NH DỆT bị Vdùng tay tát về phía mặt nhưng không trúng, bị cáo Triệu Văn C không kiềm chế được bản thân đã dùng 01 cốc thuỷ tinh (là hung khí nguy hiểm) ném vào vùng trán của Lý Văn V, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lý Văn V tại thời điểm giám định là 14% (mười bốn phần trăm). Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi liên quan, người làm chứng, kết luận giám định lại và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi gây thương tích đối với anh Vlà vi phạm pháp luật, nhưng cố ý thực hiện, hành vi đó đã xâm phạm đến các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người. Như vậy đã đủ cơ sở kết luận bị cáo Triệu Văn Cđã phạm tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

“Điều 134: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

Điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS quy định:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm: …

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này…”

Điểm a khoản 1: Dùng … hung khí nguy hiểm …

Viện kiểm sát nhân dân huyện LY, tỉnh YB truy tố bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội.

Xét tính chất vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi cố ý gây thương tích của bị cáo đối với người bị hại Vlà nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo biết rõ hành vi này đã xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của con người công dân được pháp luật bảo vệ, nhưng do mâu thuẫn nhỏ không kìm chế được bản thân, đã dùng cốc thủy tinh là hung khí nguy hiểm gây thương tích, hành vi này đã xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của con người được pháp luật Hình sự bảo vệ.

Về nhân thân: Bị cáo Ccó nhân thân tốt, do mâu thuẫn nhỏ nhặt bị cáo đã thực hiện hành vi cố ý gây thương tích, thể hiện sự coi thường pháp luật, chưa có ý thức tự giáo dục bản thân.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về nhân thân: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, nhất thời vì mâu thuẫn nhỏ nhặt đã gây thương tích cho bị hại V.

Về hình phạt chính: Từ nhận định nêu trên cần xét xử bị cáo Ctương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình, xã hội cũng như có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết bị cáo thành khẩn báo, ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại là 02 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, mặt khác bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; có nhân thân tốt ngoài lần phạm tội này, người phạm tội luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú; bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo, do đó áp dụng chế định này đối với bị cáo C, xử phạt hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội vẫn bảo đảm việc giáo dục bị cáo, thể hiện sự khoan hồng trong việc áp dụng pháp luật hình sự.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp thu nhập không ổn định, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền là phù hợp với quy định của pháp luật.

Vật chứng và tài sản tạm giữ trong vụ án:

- 01 (một) con dao bằng kim loại, chuôi dao bằng gỗ kích thước dài 25cm, bản rộng nhất 07cm dao cũ đã qua sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- Cần tịch thu tiêu hủy 01 (một) mảnh vỡ cốc thủy tinh, không rõ hình dạng, kích thước.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 15.000.000 đồng bị hại nhận đủ tiền và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản tiền nào khác nên Hội đồng xét xử không xét.

Đối với nội dung khác liên quan đến vụ án:

Đối với Lý Văn V ngày 29 tháng 8 năm 2023, trong quá trình tham gia giao thông đường bộ đã xảy ra mâu thuẫn dẫn tới xô xát với Triệu Văn Cdo đó Công an huyện Lục Yên ra quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với Vlà có căn cứ đúng quy định của pháp luật.

Đối với Tăng Hoàng Th ngày 29 tháng 8 năm 2023, quá trình Lý Văn Vxô xát với Triệu Văn C, Tăng Hoàng Th tại thôn Xiêng 1, xã Tân Lập, Th không gây thương tích cho V. Sau đó tại quán bia NH DỆT Th không tham gia vào vụ việc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý hình sự với Th là có căn cứ.

Đối với Phạm Kim Nglà người đi cùng Triệu Văn C, Tăng Hoàng Th và Trần Văn Tr, Chu Văn H, Chu Văn Th là những người đi cùng Lý Văn V không không bàn bạc, hứa hẹn, tham gia vào vụ việc xô xát đánh nhau giữa C và V nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý hình sự là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với người đàn ông tên Son (Vquen biết qua mạng xã hội) quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh theo thông tin Lý Văn V cung cấp nhưng không xác định được con người cụ thể, căn cứ vào các lời khai của những người có liên quan trong vụ án đủ căn cứ xác định Son không tham gia vào việc đánh nhau giữa Lý Văn V và Triệu Văn C nên không đề cập xử lý là có căn cứ.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Đình Nh không yêu cầu bị cáo bồi thường 01 cốc thủy tinh, do bị cáo Csử dụng là hung khi gây thương tích cho bị hại V, cốc thủy tinh đã vỡ nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Cphải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Những chứng cứ buộc tội của Kiểm sát viên và lời trình bày của bị cáo phù hợp với tranh tụng tại phiên tòa và hợp pháp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Văn C phạm tội "Cố ý gây thương tích".

2. Về hình phạt:

2.1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Triệu Văn C 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Triệu Văn C cho Ủy ban nhân dân xã Ph, huyện LY, tỉnh YB quản lý, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao bằng kim loại, chuôi dao bằng gỗ kích thước dài 25cm, bản rộng nhất 07cm, 01 (một) mảnh vỡ cốc thủy tinh, không rõ hình dạng, kích thước.

(Chi tiết đặc điểm các vật chứng được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 14 tháng 5 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện LY, tỉnh YB).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; Bị cáo Triệu Văn C được miễn 200.000, đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết. Người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi của mình hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết./.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự”.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ