- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Huỳnh Thanh N - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lưu Huỳnh Thanh N về tội “Trộm cắp tài sản” 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/8/2023.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 173 Bộ luật hình sự xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2024/HS-ST Ngày: 17-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, TP.HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Chính
2. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Lâm Minh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa:
Ông Trần Văn Phú – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 333/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 354/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lưu Huỳnh Thanh N. Sinh năm 1996 tại tỉnh Hậu Giang; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: ấp 4, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 4/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lưu Văn T và bà: Nguyễn Thị B; Vợ, con: chưa có; Tiền án: không; Tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 10/7/2023 Chủ tịch UBND xã Xuân Thới Sơn ra Quyết định số 10/QĐ-QLNN về việc quản lý người nghiện trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Ngày 11/8/2023 Chủ tịch UBND xã Xuân Thới Sơn ra Quyết định số 13/QĐ-UBND hủy Quyết định về việc quản lý người nghiện trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 11/8/2023 hiện bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hóc Môn (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại:
1/ Ông Ngô Chơn T, sinh năm 1973; Địa chỉ: 160/15 Hồng Lạc, phường 11, quận Tân Bình, TP.HCM.
2/ Ông Huỳnh Thanh H, sinh năm 1970; Địa chỉ: 33B Mai Thị Lựu, phường ĐaKao, Quận 1, TP.HCM.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lưu Huỳnh Thanh N là đối tượng không có nghề nghiệp, nghiện ma tuý. Trước kia N từng làm phụ hồ cho ông Huỳnh Thanh H và thấy ông H sau khi xây dựng công trình có gửi các máy xây dựng tại nhà ông Ngô Chơn T địa chỉ: tổ 2, ấp 5, xã X, huyện Hóc Môn nên N nẩy sinh ý định trộm cắp số máy này bán lấy tiền tiêu xài, cụ thể:
Lần 1: khoảng 16 giờ ngày 25/6/2023, N điều khiển xe gắn máy Attila màu đen (không rõ biển số) từ phòng trọ thuộc phường T, Quận 12 đến nhà ông T để trộm tài sản. Khi đến nơi, N để xe gắn máy bên ngoài rồi leo hàng rào vào bên trong đến hàng ba nhà ông T lấy trộm 01 máy nổ hiệu Honda, 01 máy cưa chạy xăng rồi đưa ra ngoài bỏ lên xe gắn máy tẩu thoát. Sau đó N đem tài sản trộm được đến khu vực Công ty “Việt Hưng” thuộc phường T, Quận 12 bán ve chai cho 01 người đàn bà (không rõ lai lịch, mua ve chai dạo) được 300.000 đồng.
Lần 2: khoảng 17 giờ ngày 26/6/2023, N tiếp tục điều khiển xe gắn máy Attila đến nhà ông T để xe gắn máy bên ngoài rồi leo hàng rào vào bên trong lấy trộm 01 mô tơ điện, 01 máy mài điện, 01 máy hàn điện, 01 máy khoan pin hiệu Dewalt, 01 máy mài pin hiệu Dewalt, 01 mixer karaoke, 01 amly karaoke, 01 máy hàn sắt, 01 máy cắt sắt, 01 máy bơm nước đưa qua cửa sổ đã bẻ trước đó rồi chui ra ngoài. N đi ra cửa rào giật mạnh làm cửa rào bung ra rồi điều khiển xe gắn máy Attila vào bên trong chất số tài sản trộm được lên xe tẩu thoát. Sau đó N đem tài sản trộm được này đến khu vực Bà Quẹo thuộc quận Tân Phú bán ve chai cho 01 người đàn bà (không rõ lai lịch, mua ve chai dạo) được 800.000 đồng.
Lần 3: khoảng 04 giờ 30 ngày 01/7/2023, N tiếp tục điều khiển xe gắn máy Dream màu nho, biển số: 93F8-6359 đến nhà ông T vào bên trong đến hàng ba nhà ông T lấy trộm xe gắn máy Honda màu đỏ chất lên xe gắn máy Dream tẩu thoát.
Qua truy xét Cơ quan CSĐT mời Lưu Huỳnh Thanh N về làm việc. N khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp như trên. N chỉ điểm Cơ quan CSĐT thu giữ được tang vật là xe gắn máy Honda DD 70 tại tiệm sửa xe của chị Lê Hồng V, địa chỉ, tổ 51, KP 7, P T, Quận 12, TP. HCM. Khi mua chị V không biết xe gắn máy do N trộm cắp mà có.
Kết luận định giá tài sản số: 112/KL-HĐĐGTS ngày 27/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn như sau:
- Đối với 01 máy nổ chạy ghe hiệu Honda, Nhật sản xuất, không rõ model; 01 máy cưa cây chạy xăng hiệu Honda, Nhật sản xuất, không rõ model; 01 mô tơ điện (dùng chạy máy trộn hồ) Đài Loan sản xuất, không rõ model; 01 máy hàn điện Trung Quốc sản xuất, không rõ model; 01 Mixer (bộ trộn âm thanh) hiệu Yamaha, Việt Nam sản xuất (không rõ model); 01 Ampli karaoke Việt Nam sản xuất (không rõ model) và 01 máy bơm nước đứng (hiệu và model không rõ), Nhật sản xuất: các tài sản này không có tang vật, không đầy đủ thông tin nên Hội đồng không có cơ sở định giá.
- 01 máy mài điện, hiệu Dewalt, Trung Quốc sản xuất, DW830, mua mới tháng 6/2022 (không có tang vật) trị giá: 400.000 đồng.
- 01 máy khoan cầm tay sử dụng pin +sạc hiệu Dewalt, Trung Quốc sản xuất DCD996P2, mua mới tháng 4/2020 (không có tang vật) trị giá: 700.000 đồng.
- 01 máy mài cầm tay sử dụng pin hiệu Dewalt, Mexico sản xuất DCG405M2, mua mới tháng 4/2020 (không có tang vật) trị giá: 700.000 đồng.
- 01 máy hàn điện sử dụng cuộn dây (hàn Mig) hiệu Weldcom, Trung Quốc sản xuất V2000, mua mới tháng 4/2020 (không có tang vật) trị giá: 1.200.000 đồng.
- 01 xe gắn máy hiệu Honda DD màu đỏ biển số 62F2-6830 đã cũ nát được cho tặng tháng 01/2022 (có tang vật) trị giá: 2.500.000 đồng.
Tổng số tiền: 5.500.000 đồng.
Ông Huỳnh Thanh H khai tài sản mất trộm gồm: 01 máy nổ hiệu Honda, 01 máy cưa chạy xăng, 01 mô tơ điện, 01 máy mài điện, 01 máy hàn điện. Số máy trên ông mua khoảng 47 triệu đồng đã sử dụng nhiều năm. Ông Ngô Chơn T khai tài sản bị mất trộm gồm: 01 máy khoan pin hiệu Dewalt, 01 máy mài pin hiệu Dewalt, 01 mixer karaoke, 01 amly karaoke, 01 máy hàn sắt, 01 máy cắt sắt, 01 máy bơm nước và 01 xe gắn máy hiệu Honda DD 70 biển số 62F2-6830. Tổng tài sản mua khoảng 39 triệu đồng, đã sử dụng nhiều năm.
Vật chứng thu giữ:
+ 01 (một) xe gắn máy hiệu Lifan màu nho, biển số 93F8-6359 (SK: AM100*10089431*, SM: 1P50FMG-3*10593186*) là xe của N mua không có giấy tờ sử dụng đi trộm cắp.
+ 01 xe gắn máy hiệu Honda màu đỏ đã cũ nát, không có biển số, bị tháo rời máy và thiếu các linh kiện phụ kiện. Qua giám định, xác minh, ghi lời khai được biết xe này có SK: 6406367, SM: 5006252, biển số: 62F2-6830, nhãn hiệu Honda C70E do ông Nguyễn Văn Tr (SN: 1942, HKTT: ấp 3A, xã H, Long An) đứng tên và ông Tr đã cho tặng xe gắn máy này (không làm giấy cho tặng) cho ông Ngô Chơn T.
Về dân sự: Bị hại là ông Ngô Chơn T và Huỳnh Thanh H yêu cầu nhận lại tài sản thu hồi, không yêu cầu bồi thường.
Tại bản Cáo trạng số 300/CT-VKSHHM ngày 23/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn truy tố bị cáo Lưu Huỳnh Thanh N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Đối với Nguyễn Thị V là người mua xe của N khi mua không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có, tự nguyện giao nộp lại tài sản nên không có cơ sở xử lý.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Từ ngày 25/6/2023 đến 01/7/2023, tại nhà của ông Ngô Chơn T, địa chỉ: Tổ 2B, Ấp 5, xã X, huyện Hóc Môn, Lưu Huỳnh Thanh N có hành vi lén lút thực hiện 03 lần trộm cắp tài sản của ông Huỳnh Thanh H (gồm: 01 máy nổ hiệu Honda, 01 máy cưa chạy xăng, 01 mô tơ điện, 01 máy mài điện, 01 máy hàn điện) và ông Ngô Chơn T (gồm: 01 máy khoan pin hiệu Dewalt, 01 máy mài pin hiệu Dewalt, 01 mixer karaoke, 01 amly karaoke, 01 máy hàn sắt, 01 máy cắt sắt, 01 máy bơm nước và 01 xe gắn máy hiệu Honda DD 70 biển số 62F2-6830). Tài sản mất trộm định giá là: 5.500.000 đồng và một số tài sản không đủ cơ sở để định giá. Hành vi của bị cáo N đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương nên cần truy cứu trách nhiệm hình sự để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Do đó, Viện Kiểm sát quyết định truy tố bị cáo Lưu Huỳnh Thanh N về tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Xét thấy bị cáo N có nhân thân tốt, thể hiện bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo được bị hại làm đơn bãi nại. Tình tiết tăng nặng: phạm tội 02 lần trở lên. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lưu Huỳnh Thanh N từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng:
+ Đối với 01 xe gắn máy hiệu Lifan màu nho, biển số 93F8-6359 (SK: AM100*10089431*, SM: 1P50FMG-3*10593186*) là xe của N mua không có giấy tờ sử dụng vào việc phạm tội. Ngày 18/10/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện Hóc Môn đã có Công văn số 9475/CSĐT-HS về việc đăng báo truy tìm chủ sở hữu nhưng chưa có người đến làm việc. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn tiếp tục đăng báo xử lý theo quy định.
+ Đối với 01 xe gắn máy hiệu Honda màu đỏ đã cũ nát, không có biển số, bị tháo rời máy và thiếu các linh kiện phụ kiện. Qua giám định, xác minh, ghi lời khai được biết xe này có SK: 6406367, SM: 5006252, biển số: 62F2-6830, nhãn hiệu Honda C70E do ông Nguyễn Văn Tr (SN: 1942, HKTT: ấp 3A, xã H, Long An) đứng tên và ông Tr đã cho tặng xe gắn máy này (không làm giấy cho tặng) cho ông Ngô Chơn T. Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị hại Ngô Chơn T nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả cho bị hại Ngô Chơn T.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là ông Ngô Chơn T và Huỳnh Thanh H yêu cầu nhận lại tài sản thu hồi, không yêu cầu bồi thường gì nên không đặt vấn đề giải quyết.
Tại phiên tòa, bị cáo N nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội phấn đấu trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hóc Môn, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay qua phần xét hỏi và tranh tụng công khai, bị cáo Lưu Huỳnh Thanh N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo N thừa nhận nhằm mục đích có tiền tiêu xài nên từ ngày 25/6/2023 đến 01/7/2023, tại nhà của ông Ngô Chơn T, địa chỉ: tổ 2B, Ấp 5, xã X, huyện Hóc Môn, Lưu Huỳnh Thanh N đã có hành vi lén lút thực hiện 03 lần trộm cắp tài sản của ông Huỳnh Thanh H (gồm: 01 máy nổ hiệu Honda, 01 máy cưa chạy xăng, 01 mô tơ điện, 01 máy mài điện, 01 máy hàn điện) và ông Ngô Chơn T (gồm: 01 máy khoan pin hiệu Dewalt, 01 máy mài pin hiệu Dewalt, 01 mixer karaoke, 01 amly karaoke, 01 máy hàn sắt, 01 máy cắt sắt, 01 máy bơm nước và 01 xe gắn máy hiệu Honda DD 70 biển số 62F2-6830). Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập tại hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố nên Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lưu Huỳnh Thanh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bằng hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang lo lắng cho người bị hại, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương và tạo ra một dư luận không tốt trong nhân dân. Bị cáo nhận thức rất rõ hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi cho bản thân, muốn có tiền tiêu xài, bị cáo đã bất chấp pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi trái pháp luật do mình gây ra và cần phải có hình phạt nghiêm để giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe, phòng ngừa tội phạm tương tự.
Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét thêm về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để có hình phạt tương xứng.
Bị cáo N có nhân thân tốt, thể hiện bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo được bị hại làm đơn bãi nại. Tình tiết tăng nặng: phạm tội 02 lần trở lên. Với các tình tiết nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung, nhưng có xem xét đến nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng như đã nêu trên để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không nghề nghiệp, không có thu nhập. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về dân sự: bị hại không yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
+ Đối với 01 xe gắn máy hiệu Lifan màu nho, biển số 93F8-6359 (SK: AM100*10089431*, SM: 1P50FMG-3*10593186*) là xe của N mua không có giấy tờ sử dụng vào việc phạm tội. Ngày 18/10/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện Hóc Môn đã có Công văn số 9475/CSĐT-HS về việc đăng báo truy tìm chủ sở hữu nhưng chưa có người đến làm việc. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 4 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử quyết định giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn đăng báo và trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, trường hợp không có chủ sở hữu hợp pháp đến xin nhận lại xe thì tịch thu xe sung vào ngân sách nhà nước.
+ Đối với 01 xe gắn máy hiệu Honda màu đỏ đã cũ nát, không có biển số, bị tháo rời máy và thiếu các linh kiện phụ kiện. Qua giám định, xác minh, ghi lời khai được biết xe này có SK: 6406367, SM: 5006252, biển số: 62F2-6830, nhãn hiệu Honda C70E do ông Nguyễn Văn Tr (SN: 1942, HKTT: ấp 3A, xã H, Long An) đứng tên và ông Tr đã cho tặng xe gắn máy này (không làm giấy cho tặng) cho ông Ngô Chơn T. Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị hại Ngô Chơn T nên căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tuyên trả cho bị hại Ngô Chơn T.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 và điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Căn cứ khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Xử phạt bị cáo Lưu Huỳnh Thanh N về tội “Trộm cắp tài sản” 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/8/2023.
- Về xử lý vật chứng:
Giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn đăng báo để tìm và trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp đối với 01 xe gắn máy hiệu Lifan màu nho, biển số 93F8-6359 (SK: AM100*10089431*, SM: 1P50FMG-3*10593186*). Nếu quá 06 tháng tính từ ngày thông báo trên báo vẫn không có chủ sở hữu hợp pháp đến xin nhận lại xe thì tịch thu xe sung vào ngân sách Nhà nước.
Trả lại cho bị hại Ngô Chơn T 01 xe gắn máy hiệu Honda màu đỏ đã cũ nát, không có biển số, bị tháo rời máy và thiếu các linh kiện phụ kiện.
(Vật chứng đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn tạm giữ theo Lệnh nhập kho vật chứng số 284/LNK-CSĐT-HS ngày 31/10/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/11/2023).
- Về án phí: Buộc bị cáo Lưu Huỳnh Thanh N phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - VKSND H.Hóc Môn; - VKSND TP.HCM; - CQĐT Công an H.HM; - Chi cục THADS H.Hóc Môn; - Nhà tạm giữ Công an H.HM; - Lưu: HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Thị Thanh |