- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 197 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trịnh Trung Gi phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng; Điều 255 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2024/HS-ST Ngày: 02/02/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH,
TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Ánh Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Thạch.
2. Ông Đinh Khắc Quỳnh.
- Thư ký phiên tòa:
Ông Hoàng Kim Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khoanh – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 98/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 04/2024/QĐXXST-HS, ngày 22 tháng 01 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Trịnh Trung Gi, sinh ngày: 26/11/1994. Tại: tỉnh Tây Ninh. Giới tính: Nam. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: Ấp Long H, xã Trường T, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Nghề nghiệp: Thợ sơn. Trình độ học vấn: 06/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không có. Con ông Trịnh Ngọc B, sinh năm 1953, và bà Nguyễn Thị Ph, sinh năm 1953. Vợ không có, con: sinh năm 2021.
- Tiền án: Có 01 tiền án. Bản án số 103/2016/HSPT ngày 26/7/2016, Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh căn cứ khoản 3 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, điểm d khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự 1999 xử phạt 06 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
- Tiền sự: Không có.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 30/4/2023, tạm giam từ ngày 09/5/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Hoà Thành. Bị cáo có mặt tại toà.
2. Họ và tên: Nguyễn Minh D (Tên thường gọi: Tiến), sinh ngày: 01/10/1995. Tại: tỉnh Tây Ninh. Giới tính: Nam. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: Nhà số 13/5 (30), tổ 8, đường Nguyễn Chí Th, ấp Long Kh, xã Long Thành Nam, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Nghề nghiệp: Không có. Trình độ học vấn: 06/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không có. Con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1971, và bà Hồ Thị Ph, sinh năm 1972. Vợ, con: Không có.
- Tiền án: Có 01 tiền án. Bản án số 22/2021/HSST ngày 25/3/2021, Toà án nhân dân thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17 của Bộ luật hình sự xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Tiền sự: Không có.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 30/4/2023, tạm giam từ ngày 09/5/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Hoà Thành. Bị cáo có mặt tại toà.
3. Họ và tên: Huỳnh Văn L, sinh ngày: 13/3/1995. Tại: tỉnh Tây Ninh. Giới tính: Nam. Nơi thường trú: số 58, đường Ngô Q, Ấp Trường A, xã Trường Tây, thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh. Nơi cư trú hiện nay: Ấp Thanh Đ, xã Thanh Đ, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Nghề nghiệp: Thợ sơn. Trình độ học vấn: 05/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Cao Đài. Con ông Huỳnh Văn Q, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1976. Vợ, con: Không có.
- Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 30/4/2023, tạm giam từ ngày 09/5/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Hoà Thành. Bị cáo có mặt tại toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 30/4/2023, sau khi nhậu xong tại nhà ông Nguyễn Thanh Ph, sinh năm 1975, tại tổ 17, ấp Trường A, xã Trường T, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, bị cáo Trịnh Trung Gi nhận được cuộc gọi từ người tên Kha (không rõ nhân thân, địa chỉ) rủ đến nhà bị cáo Nguyễn Minh D tại số 13/5, tổ 8, ấp Long Kh, xã Long Thành Nam, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh sử dụng ma túy. Lúc này, tại nhà của ông Ph có bị cáo Huỳnh Văn L, sinh năm 1995, trú tại ấp Trường A, xã Trường T, thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh, Đỗ Văn X, sinh năm 1989, ngụ tổ 18, ấp Thạnh Ph, xã Tân Hiệp, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; T Ph, T, Đ và 02 người bạn của Đ (không rõ họ tên, địa chỉ) nghe thấy bị cáo Gi đi đến nhà của bị cáo D để sử dụng ma túy thì cả nhóm thống nhất cùng đi (Ph không biết và không tham gia). Khoảng 01 giờ 00 phút cùng ngày, Đ đến nhà bị cáo D trước và nói: “Có chơi không? Lát có mấy thằng bạn anh đem đồ xuống chơi”, D biết là Đ rủ sử dụng trái phép ma túy nên đã chuẩn bị sẳn bàn ghế được kê tạm bằng ván gỗ và thùng sơn nhỏ để cả nhóm ngồi sử dụng ma túy tại phía sau nhà. Khoảng 10 phút sau, 02 người bạn của Đ mang theo bình sử dụng ma túy, Kh, bị cáo Gi, bị cáo L, X, T và T Ph cũng đến nhà bị cáo D. Tại nhà bị cáo D, bị cáo Gi và bị cáo L hùn nhau số tiền 300.000 đồng (trong đó, Gi hùn số tiền 200.000, L hùn số tiền 100.000 đồng), bị cáo Gi cầm số tiền 300.000 đồng đưa cho bị cáo D đi mua ma túy nhưng bị cáo D để tiền xuống bàn, sau đó một trong hai người bạn của Đạt cầm số tiền trên đi mua ma túy. Khoảng 20 phút sau, người này quay về và có cầm theo bịch ma túy rồi cùng bị cáo D, bị cáo Gi, bị cáo L, Kh, X, Tí Ph, T, Đ và bạn của Đ ngồi tại bàn bị cáo D kê sẳn cùng sử dụng ma túy, khoảng 10 phút sau thì có Nguyễn Văn T, sinh năm 1986, ngụ ấp Long Kh, xã Long Thành Nam, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh thấy nhà bị cáo D có người còn thức nên đến mượn sạc điện thoại thì thấy cả nhóm sử dụng ma túy nên ngồi sử dụng ma túy cùng. Đến khoảng 02 giờ cùng ngày, khi bị cáo D, bị cáo Gi, bị cáo L, X, T, Kh, Tí Ph, T, Đ và 02 người bạn của Đ đang sử dụng chất ma túy thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh phối hợp cùng Công an xã Long Thành Nam kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại bàn gổ một bịch nylon loại bóp dính miệng bên trong có chứa tinh thể màu trắng, được niêm phong ký hiệu M và 01 (một) bình dùng để sử dụng ma túy. Riêng Kh, Tí Ph, T, Đ và 02 người bạn của Đ đã chạy thoát, hiện chưa làm việc được.
Kết quả thử kiểm tra (test) nhanh chất ma túy xác định bị cáo Gi, bị cáo L, bị cáo D, X, T đều dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine.
Tại Kết luận giám định số 649/KL-KTHS ngày 04/5/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 bịch nylon (ký hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1344 gam.
Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Minh D, bị cáo Trịnh Trung Gi và bị cáo Huỳnh Văn L đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.
Bị cáo Trịnh Trung Gi đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý chưa được xoá án tích mà lại cố ý thực hiện hành vi phạm tội rất nghiêm trọng nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.
Bị cáo Nguyễn Minh D đã bị kết án chưa được xoá án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm.
* Qua xác minh, bị cáo Nguyễn Minh D, bị cáo Trịnh Trung Gi và bị cáo Huỳnh Văn L không có tài sản nên không kê biên.
Tại Cáo trạng số: 01/CT-VKSHT ngày 11 tháng 12 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Trịnh Trung Gi về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại các điểm b, h khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Nguyễn Minh D, Huỳnh Văn L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh trong phần tranh luận đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trịnh Trung Gi về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại các điểm b, h khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Nguyễn Minh D, Huỳnh Văn L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Đề nghị HĐXX:
1. Tuyên bố bị cáo Trịnh Trung Gi phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
- Áp dụng điểm b, h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trịnh Trung Gi từ 08 đến 09 năm tù.
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh D từ 07 năm, 06 tháng đến 08 năm tù.
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
3. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Văn L từ 07 năm đến 07 năm, 06 tháng tù.
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
* Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định.
Lời nói sau cùng của các bị cáo tại phiên tòa: các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra Công an thị xã Hòa Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, Kiểm sát viên thu thập: Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập đều được tiến hành đúng theo trình tự, thủ tục luật định.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Hòa Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, tang vật vụ án, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:
Lúc 02 giờ 00 phút ngày 30/4/2023, tại nhà số 13/5, tổ 8, ấp Long Kh, xã Long Thành Nam, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh của bị cáo Nguyễn Minh D; bị cáo D cùng bị cáo Trịnh Trung Gi và bị cáo Huỳnh Văn L có hành vi chuẩn bị địa điểm và cung cấp chất ma túy để tổ chức cho Đỗ Văn X, Nguyễn Văn T và một số đối tượng khác (đã chạy thoát) cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy thì Công an phát hiện bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Minh D, bị cáo Trịnh Trung Gi và bị cáo Huỳnh Văn L là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự, trị an nên phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đã thực hiện.
Do đó, cáo trạng Viện kiểm sát thị xã Hòa Thành truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế định quản lý độc quyền về chất ma tuý, gây mất trật tự cho xã hội, gây thiệt hại sức khoẻ, tính mạng của bản thân các bị cáo và nguy cơ gây nguy hiểm cho người khác nên phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đã thực hiện.
Vì vậy, cần phải có một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Khi quyết định hình phạt có xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo như sau:
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng:
Bị cáo Nguyễn Minh D phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo Trịnh Trung Gi, cáo Huỳnh Văn L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
* Đối với người tên Kh, T, Tí Ph, Đạt, 02 người bạn của Đ, hiện chưa xác định được khi nào làm rõ xử lý sau, là đúng quy định.
* Đối với bị cáo Trịnh Trung Gi, bị cáo Huỳnh Văn L, bị cáo Nguyễn Minh D, Đỗ Văn X, Nguyễn Văn T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an xã Long Thành Nam, thị xã Hoà Thành đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.
Như vậy, mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo quy định.
01 (Một) bì thư được niêm phong ghi số: 649, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai, trợ lý giám định Nguyễn Thị Thuỳ Dương và dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Tây Ninh. Khối lượng sau giám định là 0,0881 gam.
01 (Một) bình sứ có nắp nhựa, trên nắp gắn ống hút nhực và ống thuỷ tinh đầu tròn.
Là các vật chứng phạm tội cần tịch thu tiêu huỷ.
Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trịnh Trung Gi phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ Điểm b, h Khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trịnh Trung Gi 08 (Tám) năm tù. Thời gian chấp hành án, tính từ ngày tạm giữ, ngày 30/4/2023.
2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh D phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh D 07 (Bảy) năm, 06 (Sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành án, tính từ ngày tạm giữ, ngày 30/4/2023.
3. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn L phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn L 07 (Bảy) năm tù. Thời gian chấp hành án, tính từ ngày tạm giữ, ngày 30/4/2023.
4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 (Một) bì thư được niêm phong ghi số: 649, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai, trợ lý giám định Nguyễn Thị Thuỳ Dương và dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Tây Ninh. Khối lượng sau giám định là 0,0881 gam. 01 (Một) bình sứ có nắp nhựa, trên nắp gắn ống hút nhực và ống thuỷ tinh đầu tròn.
Vật chứng hiện Chi cục thi hành án dân sự Thị xã Hòa Thành đang tạm giữ.
5. Về án phí hình sự, dân sự sơ thẩm:
Bị cáo Trịnh Trung Gi, bị cáo Nguyễn Minh D, bị cáo Huỳnh Văn L, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT.TANDTC (Vụ 1); - TAND cấp cao tại TP.HCM; - VKSND cấp cao tại TP.HCM; - Phòng kiểm tra nghiệp vụ TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND Thị xã Hòa Thành; - CC thi hành án hình sự có thẩm quyền; - Chi cục THADS TX.Hòa Thành; - Phòng lý lịch Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh; - UBND xã Trường Tây, xã Long Thành Nam; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Dương Thị Ánh Nhung |