- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thanh Vũ - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUYÊN HẢI TỈNH TRÀ VINH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2024/HS-ST Ngày 28-3-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Dương Thanh Hùng
2. Ông Nguyễn Trần Đông
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Trần Mai Tâm, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Võ Tấn Lợi - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Thanh V, sinh ngày 22/10/1989; Tên gọi khác: Không có; Nơi sinh: tại tỉnh Trà Vinh; Nơi cư trú: ấp C, xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Văn T, sinh năm 1961 và bà Trần Thị L, sinh năm 1962; Họ tên vợ: Trương Ngọc N, sinh năm 1991; Con có 02 người: lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2018; A, chị, em ruột: có 04 người (kể cả bị cáo), lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất sinh năm 1991. Tiền án: Không. Tiền sự: 01 lần vào ngày 30/11/2021, Công an huyện D, tỉnh Trà Vinh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 750.000 đồng về hành vi đánh nhau, bị cáo chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính vào ngày 24/11/2023. Ngày 29/9/2023, bị cáo Trần Thanh V bị cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt.
- Người bị hại: Anh Nguyễn Đặng Khắc H, sinh ngày 28/8/1997. (có mặt)
Nơi cư trú: Ấp C, xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Đặng Khắc N1, sinh ngày 14/7/1993. (có mặt)
Nơi cư trú: Ấp C, xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Thanh N2, sinh năm 1994. (vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp R, xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào chiều ngày 04/4/2023 sau khi uống rượu bia tại nhà bạn, bị cáo Trần Thanh V đi về nhà ở ấp C, xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh thì gặp ông Trần Văn T là cha ruột của V. Do biết ông T có quan hệ tình cảm với mẹ ruột của anh Nguyễn Đặng Khắc H, sinh năm 1997, nơi cư trú ấp C, xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh nên Vũ khuyên ngăn ông T dừng mối quan hệ này lại nếu không V sẽ đánh anh H. Khi nghe V nói, ông T không đồng ý và nói nếu V đánh anh H thì ông T sẽ không tha thứ cho V. Lúc này, V tức giận nên đi đến khu vực bờ kè sông Q thuộc địa phận ấp C, xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh nơi anh H đang làm thuê để tìm anh H nói chuyện. Khi V gặp anh H thì V nói với anh H là về kêu mẹ anh H đừng quen cha của V nữa và V không cho anh H tiếp tục làm thuê tại khu vực trên. Khi nghe V nói, anh H không đồng ý và có lời nói chửi thề với V nên V xong vào đánh anh H thì được mọi người can ngăn. Lúc này, V đi về nhà cho tôm ăn. Sau khi cho tôm ăn xong, V tức giận về thái độ của anh H nên đi bộ đến khu vực cầu S thuộc ấp C, xã N để đợi anh H đi làm về ngang sẽ nói chuyện. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, không thấy anh H đi làm về, V điện thoại cho bạn là anh Nguyễn Thanh N2, sinh năm 1994, nơi cư trú ấp R, xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh điều khiển xe mô tô đến rước V về nhà. Khi anh N2 vừa đến, V nhìn thấy anh H điều khiển xe mô tô chở bạn anh H đi làm về, Vũ nhặt lấy 01 đoạn cây tràm khô cứng, dài khoảng 80 cm có sẵn tại hiện trường đi đến chặn đầu xe thì anh H dừng xe lại. Sau đó, V và anh H cự cãi qua lại, V tay phải cầm đoạn cây tràm đánh nhiều cái từ trên xuống trúng vào tay trái và chân trái của anh H gây thương tích. Lúc này, xe của anh H ngã nên anh H lùi về phía sau, V tiếp tục tay phải cầm đoạn cây tràm đánh nhiều cái trúng vào người anh H thì đoạn cây va chạm với mặt đường đal làm cây bị gãy thành hai đoạn, có người đến can ngăn, V không đánh anh H nữa mà bỏ cây tại hiện trường rồi lên xe anh N2 chở về nhà. Anh H được gia đình đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh T để điều trị vết thương, đến ngày 07/4/2023 thì xuất viện. Ngày 10/4/2023 anh H đến Bệnh viện C tại thành phố Hồ Chí Minh để tiếp tục điều trị vết thương đến ngày 13/4/2023 xuất viện.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 238/2023/KLTTCT-TTPY ngày 19 tháng 7 năm 2023 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh T kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của anh Nguyễn Đặng Khắc H như sau:
- Gãy mỏm khuỷu trái còn dụng cụ kết hợp xương, tỷ lệ 06%.
- Gãy xương bàn V chân trái còn dụng cụ kết hợp xương, tỷ lệ 03%.
- Sẹo lớn vùng mặt sau khuỷu trái, tỷ lệ 03%.
- Sẹo trung bình vùng ngón V mặt lưng bàn chân trái, tỷ lệ 02%.
Tổng tỷ lệ thương tật của anh Nguyễn Đặng Khắc H là 13%.
Cơ chế hình thành vết thương trên người của anh Nguyễn Đặng Khắc H là: Do ngoại lực tác động trực tiếp, vật gây ra thương tích trên là vật tày cứng, hướng từ trên xuống.
Do bị cáo Trần Thanh V không đồng ý với kết quả giám định của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh T nên đã yêu cầu giám định lại tỷ lệ thương tích của anh Nguyễn Đặng Khắc H.
Tại Bản kết luận giám định lại lần thứ I tổn thương cơ thể trên người sống số 5359/KLTTCT-C09B ngày 25/8/2023 của Phân Viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của anh Nguyễn Đặng Khắc H như sau:
- Sẹo khuỷu tay trái, tỷ lệ 03%.
- Sẹo mu bàn chân trái, tỷ lệ 02%.
- Gãy mỏm khuỷu tay trái, tỷ lệ 06%.
- Gãy xương bàn V chân trái, tỷ lệ 03%.
Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của anh Nguyễn Đặng Khắc H là 13% theo nguyên tắc cộng của Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y1 Quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.
Thương tích của anh Nguyễn Đặng Khắc H có đặc điểm phù hợp do vật tày tác động gây ra. Các tổn thương sưng nề, sây sát hiện đã lành không để lại dấu vết, không đủ cơ sở để xác định chiều hướng gây ra thương tích cho từng tổn thương.
Đối với anh Nguyễn Thanh N2 được Trần Thanh V gọi điện điều khiển xe đến rước V, anh N2 hoàn toàn không biết việc V có ý định đánh anh H và khi V đánh anh H thì anh N2 không có tham gia nên không xem xét xử lý.
Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D tạm giữ:
- 01 (một) đoạn cây gỗ tràm rắn chắc có chiều dài 31cm, cân nặng 280 gram, hai đầu cây không rõ hình, đầu lớn đường kính 6,05cm, đầu nhỏ đường kính 5,09cm.
- 01 (một) đoạn cây gỗ tràm rắn chắc có chiều dài 51cm, cân nặng 380 gram, hai đầu cây không rõ hình, đầu lớn đường kính 4,6cm, đầu nhỏ đường kính 4,3cm.
Về phần trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Thanh V đã thỏa thuận và bồi thường cho bị hại Nguyễn Đặng Khắc H với số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).
Tại bản Cáo trạng số 04/CT-VKS ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh đã truy tố bị cáo Trần Thanh V về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thanh V đã khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Duyên Hải đã truy tố, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duyên Hải giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án vẫn giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Thanh V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Thanh V từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay, người bị hại anh Nguyễn Đặng Khắc H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Nguyễn Đặng Khắc N1 không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không đề nghị xem xét.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tịch thu, tiêu hủy 01 (một) đoạn cây gỗ tràm rắn chắc có chiều dài 31cm, cân nặng 280 gram, hai đầu cây không rõ hình, đầu lớn đường kính 6,05cm, đầu nhỏ đường kính 5,09cm; 01 (một) đoạn cây gỗ tràm rắn chắc có chiều dài 51cm, cân nặng 380 gram, hai đầu cây không rõ hình, đầu lớn đường kính 4,6cm, đầu nhỏ đường kính 4,3cm.
Về án phí: Buộc bị cáo Trần Thanh V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thanh V đã khai nhận vào khoảng 17 giờ ngày 04/4/2023 tại ấp C, xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh do có mâu thuẩn từ trước và cự cãi qua lại với người bị hại anh Nguyễn Đặng Khắc H, bị cáo đã có hành vi dùng tay phải cầm đoạn cây tràm đánh nhiều cái từ trên xuống trúng vào tay trái và chân trái của anh H gây thương tích với tỷ lệ 13%. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án từ đó có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Trần Thanh V phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Duyên Hải truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thẩm tra các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử thấy rằng các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều đúng quy định pháp luật. Những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến nào khác phản đối các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nên các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo nhận thấy:
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến khả năng lao động, sinh hoạt bình thường của bị hại, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự lẽ ra bị cáo nên dùng lời hay, lẽ phải để giải quyết mâu thuẩn xuất phát từ mối quan hệ tình cảm giữa cha bị cáo với mẹ bị hại nhưng bị cáo lại dùng cây tràm rắn chắc là loại hung khí nguy hiểm để gây thương tích cho bị hại, qua đó thể hiện sự xem thường pháp luật nên cần áp dụng một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có đủ điều kiện và thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nhận thấy:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người bị hại số tiền 200.000.000 đồng, bị cáo có ông ngoại được truy tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất, nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Trong vụ án này, ngoài lỗi chính của bị cáo ra thì bị hại cũng có một phần lỗi do có những lời nói khiêu khích đối với bị cáo. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử xem xét, áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự quyết định cho bị cáo một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.
Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa, người bị hại anh Nguyễn Đặng Khắc H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Nguyễn Đặng Khắc N1 không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) đoạn cây gỗ tràm rắn chắc có chiều dài 31cm, cân nặng 280 gram, hai đầu cây không rõ hình, đầu lớn đường kính 6,05cm, đầu nhỏ đường kính 5,09cm.
- 01 (một) đoạn cây gỗ tràm rắn chắc có chiều dài 51cm, cân nặng 380 gram, hai đầu cây không rõ hình, đầu lớn đường kính 4,6cm, đầu nhỏ đường kính 4,3cm.
Là công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, tiêu hủy.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo, về vật chứng và án phí của vụ án là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Buộc bị cáo Trần Thanh V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54, Điều 47 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Trần Thanh V 01 (một) năm tù, thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc bắt bị cáo thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Nguyễn Đặng Khắc H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Nguyễn Đặng Khắc N1 không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) đoạn cây gỗ tràm rắn chắc có chiều dài 31cm, cân nặng 280 gram, hai đầu cây không rõ hình, đầu lớn đường kính 6,05cm, đầu nhỏ đường kính 5,09cm; 01 (một) đoạn cây gỗ tràm rắn chắc có chiều dài 51cm, cân nặng 380 gram, hai đầu cây không rõ hình, đầu lớn đường kính 4,6cm, đầu nhỏ đường kính 4,3cm.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Thanh V phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKSND huyện Duyên Hải; - VKSND tỉnh Trà Vinh; - Sở Tư pháp tỉnh Trà Vinh; - Công an huyện Duyên Hải; - Chi cục THADS huyện Duyên Hải; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thảo |