- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Thạch Bạch
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 10/2024/HS-PT Ngày: 02/04/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mến Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thành Bà Huỳnh Ái Loan - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thoản – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh. - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ái Minh - Kiểm sát viên. Ngày 02 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 21/2024/HSPT, ngày 05 tháng 3 năm 2024 đối với các bị cáo Thạch Bạch K, Thạch Th và Thạch Phi H do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 09/2024/HSST ngày 21/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh. Các bị cáo có kháng cáo: Thạch Bạch K, sinh ngày 14 tháng 11 năm 2003; tại huyện C, tỉnh Trà Vinh; Nơi cư trú: ấp A, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch Việt Nam; con ông Thạch S, sinh năm 1981 và bà Sơn Thị Khem R, sinh năm 1979; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: 01 tiền sự ngày 01/8/2022 bị Công an huyện C, tỉnh Trà Vinh xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 108/QĐ-XPHC về hành vi gây tổn hại cho sức khỏe người khác với số tiền 6.500.000 đồng. Bị cáo bị bắt tạm giam kể từ ngày 13/6/2023 cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa). Thạch Th, sinh ngày 09 tháng 3 năm 2004, tại huyện C, tỉnh Trà Vinh; Nơi cư trú: ấp M, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch Việt Nam; con ông Thạch U, sinh năm 1978 và bà Kim Thị Sa R, sinh năm 1985; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam kể từ ngày 13/6/2023 cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Thạch Phi H, sinh ngày 12 tháng 02 năm 2004, tại huyện C, tỉnh Trà Vinh; Nơi cư trú: ấp A, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch Việt Nam; con ông Thạch Sang, sinh năm 1964 và bà Lý Thị Sóc Khêne, sinh năm 1966; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không có; tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giam kể từ ngày 13/6/2023 cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa) Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo Thạch Ngọc Q, Sơn A; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng do không có kháng cáo, không có kháng nghị và không liên quan đến kháng cáo nên không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 19 giờ, ngày 26/01/2023 bị cáo Thạch Th chở bạn gái tên Kim Thị Phương Nh đến ăn tối tại quán hủ tiếu thuộc ấp C, xã Ơ, huyện C, tỉnh Trà Vinh do ông Võ Tấn C làm chủ. Tại quán của ông C còn có Lâm Thiện X cùng với bạn là Nguyễn Minh L và Trần Quốc N cũng đang ngồi ăn tối ở bàn bên cạnh. Khi bị cáo Th và Nh vào quán của ông C thì bị cáo Thạch Ngọc Q gọi điện thoại cho bị cáo Th nên bị cáo Th đã rủ Q đến quán của ông C để cùng ăn tối. Khoảng 15 phút sau, bị cáo Q điều khiển xe mô tô hai bánh chở theo sau là bị cáo Thạch Bạch K đến gặp bị cáo Th. Khi đến quán của ông C, bị cáo Q gọi điện thoại rủ thêm bạn chung của cả nhóm là Kim Ê để đến quán ông C cùng ăn tối. Được bị cáo Q rủ, Ê đồng ý và rủ thêm bạn của cả nhóm là bị cáo Thạch Phi H và bị cáo Sơn A cùng đi. Khi đi thì bị cáo A điều khiển xe mô tô một mình, Ê điều khiển xe mô tô chở bị cáo H. Khi Ê và bị cáo A vừa dừng xe trên đường nhựa phía trước quán của ông C. Thời điểm này, Nh ngồi xoay mặt về phía Ê, đồng thời X đang nói chuyện qua điện thoại di động với bạn và có nói đùa lớn tiếng, nội dung là: “Đụ mẹ, đánh lộn không?”. Bị cáo K ngồi ở bàn bên cạnh nghe X vừa nói nội dung nêu trên vừa hướng mặt về phía bạn của bạn của mình là Ê và các bị cáo H, bị cáo A. Do đó, bị cáo K nghĩ rằng X cố ý thách thức rủ Ê , bị cáo H và bị cáo A đánh nhau. Lúc này, bị cáo K tức giận và muốn bênh vực bạn của mình nên bị cáo K liền đứng lên, cầm cái ghế nhựa của ông C đang có sẵn tại quán hủ tiếu, bên cạnh vị trí bị cáo K đang ngồi, chạy đến đứng cách vị trí X đang ngồi khoảng 01 mét, dùng hai tay cầm cạnh trên phần tựa lưng của ghế, đánh liên tiếp 02 cái vào vùng đầu của X theo hướng từ trên xuống. Khi nhìn thấy bị cáo K đánh X, bị cáo Q và bị cáo Th muốn giúp bị cáo K đánh X nên lập tức cả hai chạy đến cùng tham gia đánh X. Cụ thể: Bị cáo Q dùng tay phải đánh liên tiếp 02 cái vào vùng đầu và mặt của X, thời điểm bị cáo Q đang dùng tay đánh X thì L là bạn của X vào can ngăn không để cho bị cáo Q tiếp tục gây thương tích cho X. Khi L vào can ngăn thì bị cáo Q dùng tay phải đánh 02 cái liên tiếp vào vùng đầu và vùng mặt của L; trong lúc đó, bị cáo Th sử dụng cái ghế nhựa (cùng loại với ghế nhựa mà bị cáo K sử dụng để đánh X) dùng tay phải cầm phần tựa lưng ghế đánh vào
người L 02 cái. Sau đó, bị cáo K lấy cây dao dùng để cắt thịt của ông C để trên xe hủ tiếu, dùng tay phải cầm cán dao và chém vào người ông L 01 cái gây thương tích. Bị cáo K vừa dùng dao chém xong, ngay lập tức bị cáo A dùng tay phải cầm cái ghế nhựa (có đặc điểm cùng loại với ghế nhựa mà bị cáo Th và bị cáo K sử dụng nêu trên) đi đến và đứng đối diện, cách L khoảng 01 mét đánh vào vùng đầu và mặt của L 01 cái, bị đánh trúng, L té ngã nằm trên nền bê-tông tại quán hủ tiếu của ông C. Sau khi L bị đánh té ngã thì cả nhóm quay sang tập trung đánh gây thương tích cho X. Cụ thể: Bị cáo Q chạy đến bàn của bị cáo vừa ngồi ăn hủ tiếu trước đó lấy trên bàn một cái ly nhựa ném trúng vào người X; ném xong bị cáo Q tiếp tục lấy cái bàn nhựa tại quán hủ tiếu, cầm hai tay đánh mạnh vào vùng đầu và mặt của X 03 cái liên tiếp theo hướng từ trên xuống. Thời điểm đó, bị cáo Th và bị cáo A, mỗi bị cáo cầm 01 cái ghế nhựa tiếp tục đánh vào vùng đầu và mặt của X; bị cáo Th đánh 02 đến 03 cái, bị cáo A đánh 01 cái. Do bị đánh liên tục nên X đã bỏ chạy, bị cáo Th đuổi theo dùng chân đạp vào vùng lưng của X 01 cái. Riêng bị cáo H, khi nhìn thấy nhóm bạn của bị cáo đang đánh X và L, vì muốn giúp nhóm bạn của mình đánh X và L nên bị cáo đã chủ động tìm hung khí để cùng tham gia; H nhìn thấy bên cạnh quán hủ tiếu có một đóng sắt phế liệu của ông Phan Văn S, sinh ngày 01/01/1977, nơi thường trú và nơi ở hiện tại ấp L, xã Ơ, huyện C, tỉnh Trà Vinh; ngay lập tức bị cáo H chạy đến lấy một cái bô (bộ phận giảm thanh) của máy nổ rồi chạy vào cùng với cả nhóm để tham gia đánh X và L. Đứng ở vị trí cách X khoảng 02 đến 03 mét, bị cáo H cầm cái bô nêu trên bằng tay phải ném vào người X, trúng vào vùng mặt của X ở thời điểm trước khi bị cáo Q dùng cái bàn nhựa đánh X. Thời điểm X bỏ chạy, bị cáo Q có lấy được một cái tô bằng sành của ông C dùng để bán hủ tiếu trên nền bê tông tại hiện trường; mục đích dự định dùng để gây thương tích cho X nhưng X đã bỏ chạy. Lúc đó, bị cáo Q đứng cách vị trí L đang nằm khoảng 01 mét, bị cáo Q cầm cái tô nêu trên bằng tay phải ném trúng vào vùng đầu và mặt của L. Sau khi gây thương tích cho X và L như nội dung nêu trên thì các bị cáo lên xe rời khỏi hiện trường. Ngay sau đó, X và L được người thân cùng người dân gần đó đưa đến Trung tâm y tế huyện C để điều trị vết thương. Căn cứ Giấy chứng nhận thương tích số 11, ngày 27/01/2023 của Trung tâm y tế huyện C đối với ông Lâm Thiện X, xác định tình trạng thương tích của ông X lúc vào viện: 02 vết thương vùng đuôi chân mày trái, mỗi vết dài lần lượt 04 cm và 02 cm, sâu 0.5cm, nham nhở; Nhều vết xây xát vùng trán, gò má phải và mũi; xây xát cổ tay trái; gãy răng 2.1; tiền sử: rách giác mạc mắt trái khoảng 01 năm, thị lực mắt trái: 0/10; X quang sọ thẳng, nghiêng: chưa ghi nhận tổn thương trên phim. Căn cứ Giấy chứng nhận thương tích số 31, ngày 31/01/2023 của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh đối với ông Nguyễn Minh L, xác định tình trạng thương tích của ông L lúc vào viện: Tỉnh, tiếp xúc tốt, không dấu hiệu thần kinh khu trú; 02 vết thương vùng chẩm dài khoảng 04 cm và 03 cm, vùng cổ sau khoảng 02 cm, vùng cạnh mũi khoảng 02 cm khô, không sưng viêm; bầm quanh 02 mắt; sưng đau vùng mũi, nghẹt mũi; chảy máu mũi 02 bên tự cầm, khe và sàn
mũi động máu đông; mũi: tháp mũi biến dạng, lệch trái, phù nề nhẹ, sờ xương chính mũi mất liên tục, ấn đau, họng sạch; tim đều, phổi trong, bụng mềm. Ngày 07/3/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C lần lượt ra các Quyết định trưng cầu giám định số 13/QĐ-ĐTTH, số 14/QĐ-ĐTTH trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh Trà Vinh giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với ông Lâm Thiện X và ông Nguyễn Minh L. Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 109/2023/ KLTTCT-TTPY, ngày 16/3/2023 của Trung tâm Pháp y thuộc sở y tế tỉnh Trà Vinh kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân Nguyễn Minh L tại thời điểm giám định là 15% (Mười lăm phần trăm); Cơ chế hình thành vết thương trên người của nạn nhân Nguyễn Minh L là do ngoại lực tác động trực tiếp, vật gây ra thương tích trên là vật tày cứng, hướng từ trên xuống. Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 110/2023/ KLTTCT-TTPY, ngày 16/3/2023 của Trung tâm Pháp y thuộc sở y tế tỉnh Trà Vinh kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân Lâm Thiện X tại thời điểm giám định là 16% (Mười sáu phần trăm); Cơ chế hình thành vết thương trên người của nạn nhân Lâm Thiện X là do ngoại lực tác động trực tiếp, vật gây ra thương tích trên là vật tày cứng, hướng từ trên xuống, từ trước ra sau. Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 09/2024/HS – ST ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện C đã xét xử. Tuyên bố các bị cáo Thạch Bạch K, Thạch Th, Thạch Phi H phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Căn cứ vào điểm d khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Thạch Bạch K 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/6/2023. Căn cứ vào điểm d khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 Xử phạt bị cáo Thạch Th 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/6/2023. Xử phạt bị cáo Thạch Phi H 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/6/2023 Ngoài ra bản án sơ thẩm còn xử lý về trách Nhệm dân sự, vật chứng án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Ngày 06/02/2024 các bị cáo Thạch Bạch K, Thạch Th, Thạch Phi H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Thạch Bạch K, Thạch Th, Thạch Phi H thừa nhận bản án sơ thẩm quy kết hành vi phạm tội của các bị cáo là đúng, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội không kêu oan và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay các bị cáo Thạch Bạch K, Thạch Th, Thạch Phi H không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới và vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh: Sau khi xem xét toàn diện nội dung vụ án, lời trình bày của các bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xử các bị cáo Thạch Bạch
K, Thạch Th và Thạch Phi H phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ đúng pháp luật. Mức hình phạt mà bản án sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo là đã đánh giá đúng tính chất vụ án. Tại phiên tòa phúc hôm nay các bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh. Các bị cáo Thạch Bạch K, Thạch Th và Thạch Phi H nói lời sau cùng: Các bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Đơn kháng cáo của các bị cáo Thạch Bạch K, Thạch Th và Thạch Phi H là còn trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm. [2] Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Thạch Bạch K tự nguyện không yêu cầu người bào chữa cho bị cáo và được Hội đồng xét xử chấp nhận. [3] Đối với yêu cầu kháng cáo của các bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo có kháng cáo đã thừa nhận: Vào khoảng 19 giờ ngày 26 tháng 01 năm 2023, tại quán bán hủ tiếu của ông Võ Tấn C thuộc ấp C, xã Ơ, huyện C, tỉnh Trà Vinh các bị cáo Thạch Bạch K, Thạch Th và Thạch Phi H cùng với Thạch Ngọc Q, Sơn A đã dùng tay, dùng ghế nhựa, dao, tô sành, bô động cơ (bộ phận giảm thanh) của máy nổ đánh gây thương tích cho bị hại là ông Nguyễn Minh L với tỷ lệ tổn thương cơ thể 15 % và gây thương tích cho bị hại ông Lâm Thiện X 16 % là sự việc có thật. Lời khai thừa nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, bản án sơ thẩm quy kết các bị cáo Thạch Bạch K, Thạch Th và Thạch Phi H phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. [4] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo Thạch Bạch K, Thạch Th và Thạch Phi H là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khoẻ của bị hại Nguyễn Minh L và Lâm Thiện X được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực trách Nhệm hình sự và thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp khi các bị cáo mỗi người lần lượt sử dụng ghế nhựa, tô sành, dao, bô động cơ (bộ phận giảm thanh) của máy nổ là những loại hung khí nguy hiển để gây thương tích cho 02 bị hại vào những vùng trọng yếu cơ thể như đầu, mặt là có khả năng gây nguy hiểm đến sức khoẻ, tính mạng các bị hại quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Giữa các bị cáo và các bị hại hoàn toàn không có mâu thuẫn từ trước, nhưng chỉ gì những nguyên cớ hết sức nhỏ nhặt mà bị cáo Thạch Bạch K chủ
động tấn công các bị hại và ngay sau đó các bị cáo còn lại như Quý, Hải, Thi, Hùng tiếp nhận ý chí của bị cáo Thạch Bạch K liên tiếp tấn công các bị hại bằng tay, bằng các hung khí nguy hiểm, làm cho các bị hại bị thương tích như các kết luận giám định đã kết luận. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo thêm tình tiết phạm tội thuộc trường hợp “Có tính chất côn đồ” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ. Căn cứ vào các kết luận giám định thì các bị cáo đã cùng nhau “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%” (bị hại X 16%, bị hại là L 15%) là thuộc tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm d khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, có đủ căn cứ kết tội các bị cáo Thạch Bạch K, Thạch Ngọc Q, Thạch Th, Sơn A, Thạch Phi H đã phạm vào tội “cố ý gây thương tích” quy định tại điểm d khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bản thân các bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác là hành vi vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hành vi phạm tội của các bị cáo thể hiện ý thức xem thường pháp luật, không những gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội tại địa phương mà còn ảnh hưởng đến thực hiện đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng nông thôn mới, nông thôn nâng cao. Tình hình tội phạm cố ý gây thương tích trong thời gian qua trên địa bàn tỉnh Trà Vinh tiếp tục gia tăng gây Nhều bức xúc trong nhân dân, trong dư luận, cần phải kéo giảm loại tội phạm này nhằm phục vụ cho Nhệm vụ chính trị tại địa phương. Vì vậy, cần xử lý nghiêm đối với các bị cáo để nhằm răn đe phòng ngừa chung, góp phần đấu tranh chống loại tội phạm nguy hiểm này trong tình hình hiện nay nhất là tầng lớp thanh thiếu niên tụ tập băng nhóm có vũ khí sẵn sàng gây án dù đó chỉ là những mâu thuẫn, xích mích nhỏ nhặt trong cuộc sống. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và xử phạt các bị cáo tù có thời hạn là có căn cứ, khi áp dụng hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét hết các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo và đánh giá đúng tính chất vụ án, vai trò của từng bị cáo. Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo trình bày các căn cứ xin giảm nhẹ hình phạt và đưa ra các lý do giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ đặc biệt mới quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Thạch Bạch K, Thạch Th, Thạch Phi H, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện C. [5] Xét quan điểm của Kiểm sát viên xét xử phúc thẩm đề nghị giữ nguyên án sơ thẩm là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. [6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. [7] Hội đồng xét xử xét thấy các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đều đúng với quy định pháp luật, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại gì đối với các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và
hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nên các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp. [8] Về án phí: Do kháng cáo của các bị cáo Thạch Bạch K, Thạch Th, Thạch Phi H không được chấp nhận nên các bị cáo chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định. Tuy Nhên bị cáo Thạch Bạch K thuộc diện hộ cận nghèo nên được miễn án phí. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Thạch Bạch K, Thạch Th, Thạch Phi H. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 09/2024/HSST ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh. Tuyên bố: Các bị cáo Thạch Bạch K, Thạch Th và Thạch Phi H phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Căn cứ vào điểm d khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Thạch Bạch K 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/6/2023. Căn cứ vào điểm d khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Thạch Th 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/6/2023. Căn cứ vào điểm d khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Thạch Phi H 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/6/2023 Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: buộc các bị cáo Thạch Th và Thạch Phi H mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Thạch Bạch K được miễn án phí hình sự phúc thẩm Các quyết định khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận: -VKSND tỉnh Trà Vinh; - Trại tạm giam CA Tỉnh; - TAND huyện C; - VKSND huyện C; - CA huyện C; - CC THADS huyện C; - Sở Tư pháp; - Các bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. N g u y ễ n Văn Mến | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |